Chương I
THỐNG KÊ YÊN BÁI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
VÀ ĐẾN NĂM 1960
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH HINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH YÊN BÁI
Yên Bái là một địa danh có từ thời rất xa xưa. Đến thời thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng phân định địa giới hành chính để dễ quản lý. Ngày 11/4/1900, tỉnh Yên Bái được thành lập, bao gồm Phủ Trấn Yên và 3 châu là: Văn Chấn, Lục Yên và Than Uyên. Từ đó cho đến những năm đầu thập kỷ 90, địa dư và các đơn vị hành chính đã có nhiều lần thay đổi. Tháng Giêng năm 1976, thực hiện chủ trương của nhà nước bỏ Khu tự trị, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh: Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Cai. Sau 15 năm hợp nhất, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá VIII (Từ ngày 27/7/1991 đến ngày 12/8/1991), Quốc hội đã quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai.
Ngày 01/10/1991 tỉnh Yên Bái được tái lập và đi vào hoạt động. Địa giới tỉnh Yên Bái: Phía Đông Bắc giáp 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ; Phía Tây Bắc giáp 2 tỉnh Lai Châu và Lào Cai; Phía Tây Nam giáp tỉnh Sơn La.
Diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái là 6.882,9 km2; dân số trung bình năm 2020 là 831.586 người. Tỉnh Yên Bái có 1 thành phố (Thành phố Yên Bái), 1 thị xã (Thị xã Nghĩa Lộ) và 7 huyện (Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Văn Yên, Lục Yên, Yên Bình) với 13 phường, 10 thị trấn và 150 xã.
Tỉnh Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc của Tổ quốc, có nguồn tài nguyên phong phú. Trong lòng đất có nhiều loại khoáng sản trữ lượng khá lớn như đá đỏ, sắt, thạch anh, đá fenspat, đá trắng... Rừng có nhiều loài động, thực vật quý hiếm: Gỗ lát, pơ mu, gấu, trăn... Có sản phẩm nông nghiệp là đặc sản: Chè tuyết Suối Giàng, nếp Tú Lệ (Văn Chấn); Quế (Văn Yên); Cam (Lục Yên); Nhãn (Văn Chấn)... Có thắng cảnh hồ Thác Bà với diện tích mặt nước 19.050 ha và hơn 1.300 hòn đảo lớn nhỏ, đang được đầu tư để một vài năm tới sẽ có khu du lịch sinh thái vùng Hồ Thác Bà; Danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải, được Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện như đền, tháp, khu di tích lịch sử.
Nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái có truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng đóng góp sức người, sức của cùng nhân dân cả nước xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
II. SỰ RA ĐỜI CỦA BỘ MÁY THỐNG KÊ VIỆT NAM
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945 cụ Hồ Chí Minh - Chủ tịch lâm thời đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.
Ngày 06 tháng 01 năm 1946, tổng tuyển cử toàn quốc. Sau đó, tổ chức bộ máy của Chính phủ cũng được thành lập. Ngày 06/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 61/SL thành lập Bộ Quốc dân Kinh tế, trong đó có Nha Thống kê Việt Nam.
Để ghi nhớ công ơn của Bác Hồ và phù hợp với thực tế lịch sử, tại Công văn số 545/VPCP-KTTH ngày 13/02/2001, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Tổng cục Thống kê, lấy ngày 06/5/1946 là ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời, Nha Thống kê có nhiệm vụ:
- Sưu tầm và thu thập những tài liệu và những con số có liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế hay văn hoá.
- Xây dựng phương sách về Thống kê.
- Kiểm soát công việc của những ty Bảo hiểm Việt Nam và nước ngoài.
Kể từ ngày thành lập cho đến ngày 19/12/1946 (ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp), Nha Thống kê mới chỉ triển khai được một số công việc đã có từ trước như hoàn thiện biên soạn Niên giám thống kê năm 1946, ra một vài số Nguyệt san, còn phần lớn thời gian để chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến sau này.
Kháng chiến bùng nổ, theo chủ trương của Chính phủ, các cơ quan nhà nước ở Thủ đô tạm thời sơ tán theo Chính phủ lên các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc để tổ chức kháng chiến.
Để phù hợp với công cuộc kháng chiến của cả nước, đồng thời củng cố và hoàn thiện công tác tổ chức, Nha Thống kê Việt Nam cũng có những thay đổi. Ngày 25/4/1949 Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 33/SL tách Nha Thống kê (nguyên ở Bộ Quốc dân Kinh tế) nhập vào Phủ Chủ tịch. Ngày 01/7/1950 Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 124/SL sửa đổi tổ chức bộ máy thống kê. Căn cứ vào Sắc lệnh này Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 38/TTg ngày 09/8/1950 thành lập Phòng Thống kê trong Văn phòng Phủ Thủ tướng. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về "Chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam" được ký kết, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Nước ta tạm thời chia làm 2 miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cùng với miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ nhằm giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Nhằm đáp ứng nhiệm vụ cách mạng mới, ngày 20/02/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ số 695-TTg về tổ chức Cục Thống kê Trung ương (nằm trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước), các cơ quan Thống kê địa phương, các tổ chức Thống kê các Bộ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 08/4/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 142-TTg về quy định lại tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan Thống kê các cấp, các Ngành, bãi bỏ điều lệ 695-TTg ngày 20/02/1956. Bộ máy Thống kê các cấp, các Ngành gồm có:
- Cục Thống kê Trung ương (trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước).
- Các Chi cục Thống kê liên khu, khu, thành phố, tỉnh.
- Phòng Thống kê các huyện, châu.
- Ban Thống kê xã.
- Các tổ chức thống kê của các bộ, Ngành trung ương và các cơ quan, xí nghiệp trực thuộc.
III. HỆ THỐNG TỔ CHỨC THỐNG KÊ YÊN BÁI
Năm 1954, hoà bình được lập lại ở miền Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương tới cơ sở được xây dựng và củng cố, các Bộ, Ngành Trung ương được kiện toàn và thành lập mới để giúp Chính phủ điều hành đất nước. Cùng với sự ra đời của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính các cấp, tổ chức Thống kê Yên Bái cũng được hình thành và phát triển.
Đầu năm 1956, hình thành bộ phận Thống kê của tỉnh thuộc Văn phòng Uỷ ban hành chính tỉnh, đồng chí Nguyễn Thành Đô Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh phụ trách trực tiếp. Đồng chí Nguyễn Hiền (tên khai sinh là Phạm Văn Mắn, quê quán xã Nam Tuấn, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng) được cử chuyên trách công tác Thống kê.
Từ năm 1956 đến năm 1958, sau khi có Điều lệ 695-TTg ngày 20/02/1956, Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái được thành lập. Số cán bộ làm công tác Thống kê của tỉnh Yên Bái có 07 đồng chí do đồng chí Nguyễn Hiền giữ chức Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê (06 đồng chí cán bộ là: Ngô Trí Dụ, Nguyễn Văn Uyên, Nguyễn Đình Quảng, Nguyễn Thiệp, Nguyễn Nghiễn và Trần Gấm).
Thời gian này Thống kê huyện chưa có tổ chức riêng, mỗi huyện chỉ có 1 hoặc 2 cán bộ làm công tác Thống kê nằm trong Văn phòng Uỷ ban hành chính huyện. Ở các xã, thị trấn không có cán bộ chuyên trách thống kê, tuỳ theo tình hình cụ thể của địa phương mà Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã, thị trấn phân công cán bộ làm công tác Thống kê.
Đến 31/12/1960, biên chế của Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã có 21 người, các huyện trong tỉnh được thành lập Phòng Thống kê và Ban Thống kê xã được hình thành. Riêng một số xã ở các huyện vùng thấp đã xây dựng được Thống kê Hợp tác xã.
IV. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Bộ máy Thống kê tuy được hình thành từ tỉnh, huyện đến xã, nhưng cơ sở vật chất chưa có gì đáng kể. Trình độ cán bộ nhìn chung chưa được đào tạo có hệ thống phần lớn chuyển từ các Ngành khác sang hoặc từ bộ đội, thanh niên xung phong chuyển đến.
Nhiệm vụ công tác Thống kê trong giai đoạn này là theo dõi tình hình sản xuất, khôi phục kinh tế, khắc phục nạn đói, ổn định đời sống nhân dân, phát triển văn hoá - xã hội, củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghiệp vụ, cử cán bộ đi dự luân phiên các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Cục Thống kê Trung ương mở. Triển khai các cuộc điều tra trong các lĩnh vực nông nghiệp; thống kê đời sống nông dân; thống kê công nghiệp, giao thông - vận tải, bưu điện; thống kê vật tư kỹ thuật; thống kê xây dựng cơ bản; thống kê thương nghiệp, giá cả; thống kê dân số, văn xã... Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái cũng đã mở được nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho thống kê xã, thị trấn. Do vậy chất lượng báo cáo thống kê từ cơ sở đến tỉnh đã có những bước tiến bộ rõ rệt, phục vụ tương đối đầy đủ yêu cầu của lãnh đạo địa phương và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thống kê đối với Cục Thống kê Trung ương.
Một vinh dự lớn đến với nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, ngày 24 tháng 9 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn Đảng, Chính phủ đến thăm địa phương. Tại cuộc mít tinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phải đoàn kết giữa các dân tộc anh em thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Cách mạng trong giai đoạn mới: Tích cực tăng gia sản xuất, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để thâm canh, tăng vụ, sản xuất ra nhiều lương thực, đảm bảo đời sống no đủ. Đảng bộ và chính quyền các cấp phải quan tâm chỉ đạo xây dựng tổ đổi công, vận động nhân dân vào hợp tác xã, làm tròn nghĩa vụ đóng thuế nông nghiệp đối với nhà nước...
Phong trào hợp tác hoá ở Yên Bái đã có sự phát triển đều khắp ở các địa phương, đến năm 1960 toàn tỉnh đã có 593 hợp tác xã nông nghiệp với 17.828 hộ, chiếm 77,7% số hộ nông dân toàn tỉnh; có 64 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp gồm 1.677 xã viên, đạt 83% tổng số hộ công, thương nghiệp toàn tỉnh.
Niên học 1960, hệ thống giáo dục phổ thông cấp I, cấp II, cấp III toàn tỉnh có 171 trường học với 413 lớp và có 13.064 học sinh. Tổng số giáo viên các cấp là 481 giáo viên trong đó có 8 giáo viên cấp III. Các lớp bổ túc văn hoá được xây dựng thu hút 16.477 người theo học và đã có 3.836 người được công nhận thoát nạn mù chữ.
Cũng đến năm 1960, đã xây dựng được 60 trạm xá xã dân lập với đội ngũ y tế có 370 người.
Trong thời kỳ này nhiệm vụ chung của Ngành Thống kê là vừa phải xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, vừa phải phát triển nhiều mặt công tác để cung cấp những số liệu thống kê cho các cấp uỷ và chính quyền các cấp trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế văn hoá (1958 - 1960) cũng như chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965).
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Thống kê Yên Bái đã tiến hành thu thập số liệu bằng báo cáo Thống kê định kỳ (đối với thành phần kinh tế quốc doanh) và điều tra chuyên môn (đối với thành phần kinh tế tập thể, cá thể) nhằm thu thập những số liệu về giá trị tổng sản lượng, sản phẩm chủ yếu, lao động tiền lương, tồn kho nguyên vật liệu, tình hình vốn đầu tư, phản ánh vấn đề xây dựng hợp tác hoá, thuỷ lợi, diện tích đất đai nông nghiệp, kết quả chăn nuôi gia súc, gia cầm... Đã tiến hành cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc lần thứ nhất vào thời điểm 01/3/1960.
Các số liệu trên phản ánh một cách tương đối đầy đủ những thành tích, những tồn tại của các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh trong việc thực hiện kế hoạch nhà nước. Đặc biệt là đã phản ánh được những biến đổi về quan hệ sản xuất mới trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở địa phương.
Những số liệu tổng hợp báo cáo thống kê như: Báo cáo tiến độ, báo cáo nhanh, báo cáo chính thức, báo cáo chuyên đề, báo cáo phân tích... hàng tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng, năm đối với toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, cũng như đối với từng chuyên ngành kinh tế - xã hội, nhất là về nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại, lao động, văn hoá - xã hội... của tỉnh Yên Bái đã góp phần giúp các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương có cơ sở để tiến hành quản lý, điều hành việc thực hiện kế hoạch các mặt hoạt động, sản xuất của các ngành kinh tế, xã hội trong tỉnh. Là cơ sở để kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội Trung ương giao cho tỉnh, cũng như của tỉnh giao cho các sở, ngành và các huyện, thị trong tỉnh. Là cơ sở giúp cho cơ quan tham mưu của tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh, của các sở, ngành và huyện, thị trong tỉnh hàng năm, 3 năm, 5 năm.
Chương II
THỐNG KÊ YÊN BÁI THỜI KỲ 1961 - 1975
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) diễn ra từ ngày 5 đến 10/9/1960. Đại hội đã chỉ rõ hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.
Một là: Tiến hành Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là: Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Đồng thời đại hội cũng đã thông qua nhiệm vụ, phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) trong đó có mục tiêu cần phải phấn đấu là "Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số...".
Tại tỉnh Yên Bái từ ngày 20 đến ngày 30/01/1961, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đã họp và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu là:
1. Tăng cường xây dựng hợp tác xã nông nghiệp về mọi mặt, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp một cách toàn diện và vững chắc, nhất là sản xuất lương thực.
2. Coi trọng và phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp để cung cấp tư liệu sản xuất, vật liệu xây dựng, vật phẩm tiêu dùng. Tích cực mở mang giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và tập thể.
3. Nâng cao trình độ văn hoá, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của nhân dân, đẩy mạnh công tác phổ biến khoa học - kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề.
4. Trên cơ sở sản xuất phát triển, cải thiện một bước đời sống nhân dân lao động, mọi người đều được ăn no, mặc ấm và có việc làm. Mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.
5. Đề cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết trấn áp mọi âm mưu, hành động phá hoại của bọn phản cách mạng, tăng cường củng cố hoạt động của chính quyền và các đoàn thể quần chúng.
6. Ra sức xây dựng Đảng, làm cho Đảng bộ ngày càng mạnh để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới.
Ngày 19/8/1964, tại tỉnh Yên Bái đã tổ chức trọng thể lễ khởi công xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà. Đồng chí Lê Thanh Nghị - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ cùng các vị Bộ trưởng, Thứ trưởng và đại diện Đại sứ quán Liên Xô tham dự. Đây là công trình có ý nghĩa chính trị kinh tế to lớn đối với sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự đóng góp của nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái vào công trình thuỷ điện Thác Bà là rất to lớn. Đã có 54 xã với tổng số 8.913 hộ dân và 53.500 nhân khẩu phải chuyển đi đã có 5.353 ha ruộng cấy lúa 2 vụ, 21.000 ha diện tích trồng màu và 20.000 ha diện tích rừng phải bỏ đi... để có được công trình thuỷ điện Thác Bà hôm nay.
Ngày 05/8/1964, Đế quốc Mỹ đã phát động chiến tranh phá hoại trên toàn miền Bắc nước ta. Ngày 15/6/1965 không quân Mỹ đánh phá Nghĩa Lộ, ngày 09/7/1965 đánh phá Yên Bái. Thị xã Yên Bái là mục tiêu bị đánh phá nhiều lần, nhất là trung tâm thị xã, các trường học, bệnh viện, nhà ga, đường sắt... gây nên nhiều thiệt hại về người và tài sản.
Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện triệt để các Nghị quyết lần thứ 11 (tháng 3/1965) và lần thứ 12 (tháng 12/1965) của Ban Chấp hành Trung ương khoá III về chuyển hướng mọi mặt công tác từ thời bình sang thời chiến, nhằm đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu, kiên quyết đánh bại kế hoạch leo thang chiến tranh của Mỹ, chi viện cho Cách mạng miền Nam. Kế hoạch phòng không sơ tán được các cấp chính quyền xây dựng tỷ mỷ chi tiết, các cơ sở sản xuất chính, các cơ quan, trường học, bệnh viện ở các khu vực trọng điểm đều được sơ tán triệt để.
Chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt, nhưng mọi hoạt động sản xuất vẫn được duy trì. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, xã viên hợp tác xã nông nghiệp tay cày tay súng tranh thủ mọi điều kiện thời gian bám sát đồng ruộng để sản xuất.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương phải sơ tán, các cơ sở sản xuất thiếu nguyên, nhiên, vật liệu để sản xuất liên tục, nhưng với quyết tâm cao của các cấp, các Ngành đã tập trung chỉ đạo sản xuất những mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.
Trong điều kiện chiến tranh, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế của các địa phương được quan tâm đúng mức và có sự phát triển. Số học sinh đến trường ngày một tăng; cùng với giáo dục phổ thông, các lớp học bổ túc văn hoá, xoá mù chữ thu hút nhiều người đi học. Y tế đã đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ chiến đấu và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân; các huyện đã có bệnh viện; các khu phố, thôn bản có trạm xá và xây dựng được những đội cứu thương lưu động; công tác phòng, chống dịch bệnh được coi trọng.
Đế quốc Mỹ bị thất bại nặng nề ở cả chiến trường miền Nam cũng như chiến dịch dùng không quân ném bom miền Bắc. Ngày 01/11/1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải đơn phương tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá và các hành động khác phá hoại miền Bắc Việt Nam, đồng thời chấp nhận họp hội nghị Pari để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.
Tháng 3/1969, Bộ Chính trị họp, nhận định tình hình và nêu rõ nhiệm vụ của miền Bắc là tranh thủ thời gian chiến tranh tạm ngừng để khôi phục kinh tế, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, làm cho miền Bắc nhanh chóng lớn mạnh, đủ đáp ứng nhu cầu to lớn cho chiến trường miền Nam.
Đảng bộ và các cấp chính quyền tỉnh Yên Bái đã xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, tập trung sức sản xuất mà trọng tâm là sản xuất nông nghiệp để đảm bảo lương thực, thực phẩm tại chỗ, phục vụ đời sống nhân dân và quốc phòng.
Đầu năm 1970, tỉnh Yên Bái đã quy hoạch xong các vùng kinh tế. Vùng rừng khai thác lâm sản và trồng rừng đầu nguồn ở Văn Bàn, Than Uyên, Mù Cang Chải; vùng nguyên liệu giấy sợi, trồng cây công nghiệp và cây lương thực ở Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn; vùng chuyên canh cây lương thực, chăn nuôi đại gia súc và nghề cá là Yên Bình, Văn Chấn, Bảo Yên, Lục Yên. Các vùng kinh tế sớm phát huy được thế mạnh mở rộng diện tích gieo trồng. Đồng thời chú trọng đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.
Chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản, tháng 4/1972 Đế quốc Mỹ huy động hàng ngàn máy bay phản lực hiện đại nhất kể cả máy bay chiến lược B52, tái diễn cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt chưa từng có đối với miền Bắc mà đỉnh điểm là 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội và các thành phố khác. Cuộc tập kích không quân cuối năm 1972 đã làm cho Đế quốc Mỹ thất bại rất nặng nề và buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam vào ngày 27/01/1973 tại Pari. Đến ngày 29/3/1973 Đế quốc Mỹ cuốn cờ và rút tên lính cuối cùng về nước, chấm dứt sự can thiệp quân sự của Mỹ ở Việt Nam.
Quán triệt nhiệm vụ của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về khôi phục và phát triển kinh tế 3 năm (1973-1975) ở miền Bắc, Tỉnh uỷ Yên Bái đã tập trung lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất nông, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, phát triển văn hoá - xã hội. Mọi hoạt động từ thời chiến nhanh chóng trở lại thời bình. Các cơ sở sản xuất ở nơi sơ tán khẩn trương trở về để tiếp tục ổn định sản xuất.
Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc 21 năm chiến đấu oanh liệt chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Sự kiện lịch sử trọng đại đó đã cổ vũ Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Yên Bái - Nghĩa Lộ cùng cả nước tiếp tục bước vào giai đoạn mới của cách mạng.
Vượt qua mọi khó khăn do hậu quả của chiến tranh và do thiên tai, lũ lụt gây ra, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đoàn kết, phát huy ý chí tự lực, tự cường, tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ của Trung ương, bắt tay vào khôi phục sản xuất. Trong nông nghiệp tập trung tu sửa lại và xây dựng mới hệ thống mương phai đập tràn, hồ chứa nước đảm bảo chủ động tưới tiêu cho cây trồng. Đẩy mạnh biện pháp thâm canh tăng vụ và áp dụng tiến bộ kỹ thuật như chọn giống, bón phân, chăm sóc góp phần đưa năng suất lúa 2 vụ đạt trên 5 tấn/1 ha. Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1975 đạt 88.561 tấn. Chăn nuôi gia súc tăng nhanh: Đàn trâu có 67.000 con, đàn bò 16.000 con và đàn lợn 164.000 con.
Phong trào hợp tác hoá được quan tâm đúng mức nên công tác xây dựng và củng cố hợp tác xã nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Đến năm 1975 Yên Bái - Nghĩa Lộ có 661 hợp tác xã, trong đó có 533 hợp tác xã có quy mô bậc cao.
Các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung đầu tư về lao động, vận chuyển máy móc thiết bị, sửa chữa lại nhà xưởng để ổn định sản xuất. Nhiều nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã thủ công nghiệp được xây dựng mới đáp ứng yêu cầu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Năm 1975, có nhà máy chế biến chè Trần Phú (công suất 42 tấn/ngày), các nhà máy chè Yên Ninh, Nghĩa Lộ, Liên Sơn (công suất 13 tấn/ngày); các xí nghiệp cơ khí, bánh kẹo, đường, rượu, giấy; các cơ sở thủ công nghiệp như: Mộc xẻ, mây tre đan được xây dựng và đi vào hoạt động.
Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã có nhiều cố gắng. Đến năm 1975, Yên Bái - Nghĩa Lộ đã mở được 316 km đường mới; sửa chữa, tu bổ 2.500 km đường nông thôn; hoàn thành cầu Đá trắng (Yên Bái); đồng thời còn xây dựng được 64 cầu nhỏ qua suối và 177 cống các loại, bước đầu đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Sự nghiệp văn hoá - giáo dục và y tế được khôi phục, hệ thống loa truyền thanh được xây dựng xuống các cụm xã vùng thấp trong tỉnh để tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ giáo viên và học sinh ngày một tăng, số học sinh các cấp học đầu năm 1975 có trên 60.000 học sinh. Mạng lưới y tế phát triển rộng khắp, trung tâm huyện có bệnh viện; hầu hết các xã có trạm xá xã hoặc nhà hộ sinh. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được quan tâm.
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế miền núi của Đảng và Nhà nước. Đảng bộ và chính quyền tỉnh Yên Bái - Nghĩa Lộ đã chuẩn bị về mọi mặt để đón tiếp 1.100 hộ dân với 5.200 nhân khẩu thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Hà, Hải Dương... lên xây dựng vùng kinh tế mới.
Cùng với việc phát triển kinh tế mới, ổn định đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Đảng bộ và các cấp chính quyền tỉnh Yên Bái - Nghĩa Lộ còn động viên tuyên truyền và vận động thanh niên tham gia nhập ngũ. Đến cuối năm 1974 đã tiễn đưa 24.632 thanh niên lên đường nhập ngũ tham gia vào lực lượng bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam và Lào.
Trải qua chặng đường từ hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) đến ngày miền Nam giải phóng (1975), dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Yên Bái - Nghĩa Lộ đã phấn đấu không ngừng vừa xây dựng vừa củng cố để lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh giành được những thành tựu to lớn về mọi mặt: Xoá bỏ tàn dư lạc hậu của chế độ thực dân phong kiến, xây dựng chế độ mới; khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, đẩy mạnh sản xuất để chiến thắng đói nghèo, đẩy lùi bệnh tật; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xưng vua, nổi phỉ, giữ vững trật tự trị an; vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; tập trung sức phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội; hoàn thành cuộc vận động định canh định cư; xây dựng phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ngày càng lớn mạnh, phấn đấu từng bước để miền núi tiến kịp miền xuôi, đồng bào các dân tộc có cuộc sống ổn định, đời sống văn hoá tinh thần ngày càng được nâng cao.
II. HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
1. Bộ máy tổ chức
Ngày 21 tháng 12 năm 1960, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 15/NQ-TVQH về việc tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, thành lập Tổng cục Thống kê.
Ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 131/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo Nghị định này, Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm 8 vụ nghiệp vụ, văn phòng và một số đơn vị sự nghiệp do Tổng cục Thống kê quản lý.
Tại thời kỳ này, Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái là kết quả của quá trình Xây dựng - Phát triển - Trưởng thành của tổ chức Thống kê từ 2 tỉnh Yên Bái và Nghĩa Lộ.
1.1. Tỉnh Yên Bái
Năm 1961, Đồng chí Nguyễn Hiền (tốt nghiệp đại học Kinh tế - Tài chính) được bổ nhiệm là Chi cục trưởng, đồng chí Ngô Trí Dụ được bổ nhiệm là Phó Chi cục trưởng.
Tổng số cán bộ của Văn phòng Chi cục Thống kê có khoảng 25 người, đã hình thành các Phòng Thống kê nghiệp vụ:
- Phòng Thống kê Tổng hợp, Cân đối (bao gồm cả nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ Thống kê theo chương trình sơ cấp), đồng chí Nguyễn Nghiễn làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Nông, Lâm nghiệp, Đời sống nông dân, đồng chí Phạm Văn Thí làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Công nghiệp, Giao thông vận tải, Xây dựng cơ bản, Vật tư, đồng chí Trần Kim Bách làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Thương nghiệp, Tài chính ngân hàng, Văn xã, Đời sống công nhân viên chức, đồng chí Phạm Dụ làm Phó Trưởng phòng.
- Phòng Hành chính - Tổ chức, đồng chí Nguyễn Ngọc Thọ làm Trưởng phòng.
- Phòng Máy tính, đồng chí Lê Văn Mùi làm Trưởng phòng.
Cũng trong thời kỳ này, Phòng Thống kê các huyện, thị xã được thành lập và phát triển, mỗi phòng có từ 3 đến 5 người. Hầu hết các phòng đều đã có trưởng phòng.
- Phòng Thống kê huyện Trấn Yên: Đồng chí Mai Vy, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê huyện Yên Bình: Đồng chí Lương Đoàn Kết, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê huyện Lục Yên: Đồng chí Hoàng Trụ, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê huyện Văn Bàn: Đồng chí Cao Minh Thông, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê huyện Văn Yên: Đồng chí Lê Văn Thịnh, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê huyện Bảo Yên: Đồng chí Hoàng Văn Nhất, Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê thị xã Yên Bái: Đồng chí Nguyễn Văn Kính, Trưởng phòng.
Đến cuối năm 1965, đồng chí Nguyễn Hiền được điều về Tổng cục Thống kê, đồng chí Ngô Trí Dụ được bổ nhiệm làm Chi cục trưởng và đồng chí Trần Văn Gấm được bổ nhiệm làm Phó Chi cục trưởng.
Năm 1971, Tổng cục Thống kê bổ nhiệm thêm đồng chí Nguyễn Nghiễn là Phó Chi cục trưởng. Như vậy, từ năm 1971 đến năm 1975 Ban lãnh đạo của Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái có đồng chí Ngô Trí Dụ - Chi cục trưởng và 2 Phó Chi cục trưởng là đồng chí Trần Văn Gấm và đồng chí Nguyễn Nghiễn.
1.2. Tỉnh Nghĩa Lộ
Năm 1955, Khu tự trị Thái Mèo được thành lập (sau này đổi thành khu tự trị Tây Bắc). Về hành chính có 3 cấp là: Cấp khu - Cấp huyện - Cấp xã.
Năm 1955 – 1956, ở khu có Chi cục Thống kê khu, đến năm 1957 Chi cục Thống kê khu sáp nhập vào Uỷ ban Kế hoạch khu.
Đến năm 1962, Khu tự trị Tây Bắc bao gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ. Tỉnh Nghĩa Lộ bao gồm các đơn vị hành chính: Các huyện Bắc Yên, Phù Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Than Uyên và thị xã Nghĩa Lộ.
Số cán bộ Thống kê từ khu Tây Bắc chuyển về thành lập tổ chức thống kê nằm trong Uỷ ban Kế hoạch - Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ gồm 6 đồng chí, do đồng chí Lương Văn Phú (quê Phú Thọ) là Uỷ viên thường trực Uỷ ban Kế hoạch - Thống kê phụ trách và các đồng chí:
- Trần Đình Mai (quê Thái Bình);
- Lê Văn Việt (quê Thanh Hoá);
- Nguyễn Văn Vấn (quê Thanh Hoá);
- Nguyễn Duy Phác (quê Phú Thọ);
- Nguyễn Văn Thành (quê Hà Nội).
Đầu năm 1964, Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ mới chính thức được thành lập độc lập, đồng chí Lương Văn Phú được đề bạt là Phó Chi cục trưởng, Quyền Chi cục trưởng, sau đó năm 1968 được bổ nhiệm là Chi cục trưởng.
Năm 1966, Tỉnh uỷ và Uỷ ban hành chính tỉnh Nghĩa Lộ bổ nhiệm thêm đồng chí Đoàn Thăng là cán bộ thống kê tỉnh Hưng Yên làm Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ.
Cơ cấu bộ máy của Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ lúc này gồm 4 bộ phận và 1 trường nghiệp vụ là:
- Bộ phận Tổ chức - Hành chính;
- Bộ phận Thống kê Nông - Lâm nghiệp;
- Bộ phận Thống kê Công - Thương nghiệp, Xây dựng cơ bản, Giao thông vận tải, Vật tư;
- Bộ phận Thống kê Tổng hợp, Văn xã;
- Trường Nghiệp vụ thống kê.
Tổng số cán bộ công nhân viên chức khoảng 18 người.
Cũng trong thời gian từ 1965 - 1967, Phòng Thống kê các huyện được hình thành và ngày càng được củng cố và phát triển. Số cán bộ viên chức của 7 Phòng Thống kê huyện, thị xã có khoảng 26 - 27 người. Hầu hết số cán bộ này đều được bồi dưỡng nghiệp vụ Thống kê, hoạt động tích cực đạt kết quả khá.
Từ sau năm 1967, tổ chức bộ máy dần được kiện toàn, số biên chế được tăng thêm và đi vào hoạt động có hiệu quả. Ở văn phòng Chi cục bao gồm các phòng:
- Phòng Tổ chức hành chính, đồng chí Trần Đình Mai làm Trưởng phòng;
- Phòng Nông, lâm nghiệp - Đời sống, đồng chí Nguyễn Văn Đạt làm Trưởng phòng;
- Phòng Công, thương nghiệp - Xây dựng cơ bản, đồng chí Nguyễn Chất làm Trưởng phòng;
- Phòng Tổng hợp - Lao động - Văn xã, đồng chí Phạm Bá Chuông làm Trưởng phòng;
- Trường Nghiệp vụ Thống kê, đồng chí Lê Thanh Long phụ trách.
Đầu năm 1971, đồng chí Lương Văn Phú được Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh điều sang làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Nghĩa Lộ; đồng chí Đoàn Thăng, Phó Chi cục trưởng được giao quyền Chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ. Sau một thời gian (đầu năm 1972), đồng chí Đoàn Thăng chuyển sang Ty Tài chính tỉnh Nghĩa Lộ, phụ trách Trường Sơ cấp Thống kê - Tài chính.
Đầu năm 1972, Uỷ ban Hành chính tỉnh Nghĩa Lộ và Tổng cục Thống kê bổ nhiệm 2 đồng chí là Trần Đình Mai và Nguyễn Tấn Tăng làm Phó Chi cục trưởng, đồng thời điều động đồng chí Phạm Đình Nhương, Tỉnh uỷ viên, Bí thư huyện uỷ Phù Yên về giữ chức vụ Chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ.
Cuối năm 1974, Tỉnh uỷ và Uỷ ban hành chính tỉnh điều động đồng chí Phạm Đình Nhương sang làm Trưởng Ty Lương thực và bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Huy Bông, Trưởng Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh về làm Chi cục trưởng Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ.
Ngày 05/4/1974, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 72-CP ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê thay thế Nghị định số 131-CP ngày 29/9/1961 của Hội đồng Chính phủ.
Mô hình tổ chức Văn phòng Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ lúc đó gồm có:
- Phòng Tổ chức - Hành chính, đồng chí Trần Văn Hạnh làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Tổng hợp - Văn xã, đồng chí Phạm Bá Chuông làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Công, thương nghiệp - Xây dựng cơ bản, đồng chí Phạm Ngọc Khiếu làm Trưởng phòng;
- Phòng Thống kê Nông, lâm nghiệp, đồng chí Lã Văn Chỉnh làm Trưởng phòng;
- Phòng Máy tính cơ điện, đồng chí La Văn Tần làm Trưởng phòng.
Ở các Phòng Thống kê huyện, thị xã, số cán bộ viên chức không có gì xáo trộn lớn; cuối năm 1974 và đầu năm 1975 có các đồng chí sau đây giữ chức vụ trưởng phòng:
- Phòng Thống kê Thị xã Nghĩa Lộ (đồng chí Trần Văn Minh - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Văn Chấn (đồng chí Hà Son - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Phù Yên (đồng chí Lường Văn Ích - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Bắc Yên (đồng chí Lò Văn Tôn - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Trạm Tấu (đồng chí Hà Thiết - Trưởng phòng, sau đó đồng chí Tô Đức Chính - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Mù Cang Chải (đồng chí Bùi Hồng Vân - Trưởng phòng, sau đó đồng chí Nguyễn Văn Cẩn - Trưởng phòng);
- Phòng Thống kê huyện Than Uyên (đồng chí Hồng Công Du - Trưởng phòng).
2. Chức năng, nhiệm vụ
Nghị định số 131-CP (năm 1961) của Hội đồng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thống kê:
- Lập và ban hành hoặc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các biểu mẫu và chế độ thống kê, phương án điều tra, phương pháp tính toán và phân loại các chỉ tiêu thống kê, tổ chức và chỉ đạo các Ngành, các cấp thực hiện chế độ báo cáo thống kê và các cuộc điều tra thống kê, thống nhất quản lý các loại biểu mẫu thống kê và phương án điều tra, không ngừng cải tiến công tác thống kê.
- Trình Hội đồng Chính phủ các báo cáo thống kê và các báo cáo về quá trình thực hiện kế hoạch nhà nước, quá trình phát triển kinh tế và văn hoá, tỷ lệ phát triển của các Ngành kinh tế; có những nhận xét và kiến nghị.
- Tổ chức chỉ đạo các cuộc điều tra về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội theo chương trình công tác điều tra thống kê hàng năm đã được Hội đồng Chính phủ phê chuẩn hoặc theo các Nghị quyết, Chỉ thị của Hội đồng Chính phủ.
- Lập các báo cáo thống kê về cân đối kinh tế quốc dân, tính sản phẩm xã hội, tính thu nhập quốc dân, lập các bảng cân đối về lao động, vật tư.
- Công bố tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, công bố tin tức thống kê và xuất bản Niên giám Thống kê cùng các tập san.
- Thống nhất quản lý các số liệu thống kê về tình hình kinh tế, văn hoá trong nước; cung cấp cho Trung ương Đảng, Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các Ngành có liên quan những số liệu thống kê đã được thẩm tra, chỉnh lý để thống nhất sử dụng.
- Sưu tầm và hệ thống hoá các số liệu thống kê về kinh tế, văn hoá của nước ngoài.
- Quản lý tổ chức cán bộ, biên chế, lao động tiền lương, tài sản, tài vụ trong Ngành theo chế độ chung của Nhà nước. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thống kê cho các Ngành kinh tế quốc dân.
Đến Nghị định 72-CP (năm 1974) có một số điều thay đổi và bổ sung so với Nghị định 131-CP là:
- Tổng cục Thống kê là cơ quan trung ương trực thuộc Chính phủ, có trách nhiệm tổ chức và quản lý thống nhất công tác hạch toán kế toán và thống kê.
- Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất hệ thống tổ chức thống kê nhà nước (quản lý Ngành dọc từ Tổng cục Thống kê - Chi cục Thống kê - Phòng Thống kê huyện) và hệ thống thông tin kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Trình Hội đồng Chính phủ ban hành các chế độ thống nhất của Nhà nước về hạch toán và thống kê, về hệ thống chỉ tiêu thống kê, về phân Ngành kinh tế, phân loại xí nghiệp, về danh mục sản phẩm... để sử dụng thống nhất trong công tác kế hoạch, công tác tài chính, công tác kế toán và thống kê.
Nghị định 72-CP còn quy định rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Chi cục Thống kê cấp tỉnh, thành phố, của Phòng Thống kê cấp huyện, thị và công tác thống kê cấp xã.
Với chức năng, nhiệm vụ nêu trên, Tổng cục Thống kê hướng dẫn các Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố lập chế độ báo cáo Thống kê định kỳ ở tất cả các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế quốc doanh và hợp tác xã. Triển khai các cuộc điều tra theo kế hoạch trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ bản, vật tư. Đồng thời Chi cục Thống kê tỉnh, Phòng Thống kê các huyện, thị xã và Thống kê xã còn phải phục vụ yêu cầu lãnh đạo và chỉ đạo tình hình kinh tế - xã hội của các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương. Cụ thể là: Phải đảm bảo yêu cầu thông tin để chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, xây dựng, công nghiệp, lưu thông phân phối trong thời chiến; Tập trung tăng cường công tác thống kê tiến độ sản xuất và chế độ báo cáo nhanh nhằm phản ánh kịp thời quá trình phát triển sản xuất các sản phẩm chủ yếu trong công nghiệp, quá trình tiến hành sản xuất thu hoạch các loại cây trồng chủ yếu, số lượng các đàn gia súc, gia cầm, phản ánh quá trình vận chuyển, cung cấp, tiêu thụ và dự trữ các loại vật tư kỹ thuật và hàng hoá chủ yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của các tầng lớp dân cư. Qua số liệu thống kê còn giúp các cấp, các ngành phát hiện kịp thời các nhân tố mới, những điển hình tiên tiến cũng như những bất hợp lý trong quá trình sản xuất, kinh doanh, để có sự chỉ đạo và điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch nhà nước ở các xí nghiệp công, nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các huyện, thị xã trong toàn tỉnh. Bên cạnh đó ngành Thống kê còn có nhiệm vụ phản ánh một cách có hệ thống quá trình phát triển kinh tế, văn hoá qua các năm; phản ánh quá trình xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; quá trình củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhằm nêu lên những đổi mới trong nền kinh tế của địa phương và phục vụ kịp thời yêu cầu nắm vững nguồn nhân lực, vật lực cho công tác an ninh quốc phòng.
III. CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Những năm đầu mới thành lập, ngành Thống kê các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó có Thống kê tỉnh Yên Bái, còn rất thô sơ và đơn giản. Trụ sở làm việc chưa được xây dựng riêng mà nằm chung trong khu Uỷ ban Hành chính tỉnh.
Từ năm 1963, Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái và Uỷ ban Kế hoạch đã có trụ sở riêng: Nhà 2 tầng (Chi cục Thống kê ở tầng 1). Phương tiện làm việc đã có máy đánh chữ, máy in rônêo và một số máy tính quay tay hiệu Nisa. Phương tiện đi lại được Uỷ ban Hành chính tỉnh cấp cho 1 xe đạp công để cán bộ sử dụng đi công tác khai thác số liệu.
Từ giữa năm 1965, không quân Mỹ ném bom miền Bắc. Thực hiện lệnh của Uỷ ban Hành chính tỉnh, cơ quan tiến hành sơ tán triệt để vào nhà dân xã Minh Bảo.
Từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1969, tiếp tục chuyển cơ quan vào xã Tân Thành huyện Yên Bình (nằm trong vùng hồ chuẩn bị ngập) ở tạm trong nhà dân (đã được nhà nước chuyển đi xây dựng quê hương mới).
Từ tháng 5/1969 đến cuối năm 1972, cơ quan Chi cục Thống kê chuyển về xã Tân Thịnh, thị xã Yên Bái. Nhà làm việc cho các phòng nghiệp vụ, hội trường, nhà ăn tập thể được làm tạm bằng vật liệu gỗ, tre, nứa, lá cọ.
Đầu năm 1973, Chi cục Thống kê chuyển ra khu vực Km 6, thị xã Yên Bái. Cơ sở vật chất lúc này như nhà làm việc cho các phòng nghiệp vụ, hội trường, nhà ăn tập thể, đều là nhà khung gỗ, vách nứa và lợp lá cọ. Phương tiện làm việc rất đơn sơ, vẫn chỉ là những chiếc máy tính quay tay hiệu Nisa, Phi ngư. Thời gian này Tổng cục Thống kê đã trang bị cho Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái một số máy tính cơ điện bấm phím, thành lập phòng máy tính riêng có khoảng 10 công nhân (Số công nhân này đều có trình độ văn hoá 10/10 và được đào tạo vận hành máy tại trung tâm máy tính của Tổng cục Thống kê).
Phương tiện đi lại, cơ quan chưa có xe ô tô riêng, cán bộ viên chức đi công tác trong và ngoài tỉnh chủ yếu bằng phương tiện vận tải hành khách của nhà nước và xe đạp của cá nhân.
Đối với tỉnh Nghĩa Lộ, năm 1964, khi thành lập Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Lộ trụ sở cơ quan đóng tại khu phố I thị xã Nghĩa Lộ (nay là sân vận động trung tâm thị xã Nghĩa Lộ).
Năm 1965, giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, cơ quan sơ tán về bản Ao Luông, bản Khộn (xã Sơn A). Đầu năm 1971 cơ quan chuyển về bản Tông Co (xã Nghĩa An). Sau đó, đầu năm 1972, giặc Mỹ đánh phá ác liệt thị xã Nghĩa Lộ, cán bộ viên chức lại khẩn trương thu xếp tài liệu chuyển về bản Xà Rèn thuộc xã Nghĩa Lợi tiếp tục xây dựng nhà tạm tranh tre, nứa, gianh và ở nhờ nhà dân, đảm bảo công tác phục vụ cho các cấp Uỷ Đảng và chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện kế hoạch thông tin của Tổng cục Thống kê.
Đầu năm 1973, sau khi ký kết hiệp định Pari, cơ quan Chi cục Thống kê Nghĩa Lộ chuyển trở lại khu cơ quan cũ ở bản Tông Co và chuẩn bị xây dựng trụ sở mới tại trung tâm thị xã Nghĩa Lộ. Uỷ ban Hành chính tỉnh đã đầu tư kinh phí để cơ quan xây dựng được 4 nhà cấp bốn (mỗi nhà 6 gian) cho các phòng làm việc và ở tại đó đến đầu năm 1976, khi hợp nhất tỉnh.
Phương tiện làm việc lúc này được Tổng cục Thống kê trang bị cho một số máy tính cơ điện bấm phím, việc nhân bản tài liệu có máy chữ, máy in Rônêô. Các phòng nghiệp vụ có máy tính quay tay hiệu Nisa, Phi ngư...
Riêng phương tiện đi lại, đầu năm 1975 cơ quan Chi cục Thống kê được Uỷ ban Hành chính tỉnh phân cho 1/2 chiếc xe con Gát 69 của Liên Xô (chung với Ban bảo vệ bà mẹ trẻ em tỉnh).
IV. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Ngành Thống kê Yên Bái những ngày mới thành lập còn có nhiều khó khăn: Cơ sở vật chất thiếu thốn, nhân lực không đủ, trình độ chuyên môn bất cập và có nhiều hạn chế, đã là vật cản không nhỏ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Song được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, Uỷ ban Hành chính tỉnh, sự chỉ đạo sát sao về nghiệp vụ chuyên môn của Tổng cục Thống kê, tập thể cán bộ công chức Ngành Thống kê Yên Bái đã đạt được kết quả khá.
Trước hết về trình độ cán bộ, ngay từ khi mới thành lập, số cán bộ được đào tạo chuyên ngành thống kê còn rất ít. Miền Bắc có Khoa Thống kê thuộc trường Đại học Kinh tế - Kế hoạch (nay là trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội) được thành lập năm 1956; mỗi năm chiêu sinh 4 lớp dài hạn là Thống kê Công nghiệp, Thống kê Nông nghiệp, Thống kê Thương nghiệp, và Thống kê Xây dựng cơ bản, các lớp chuyên tu, tại chức. Số sinh viên tốt nghiệp phân về cho tỉnh Yên Bái rất hạn chế. Đầu những năm 1960 Trường cán bộ Thống kê Trung ương I được thành lập (nay là trường Cao đẳng Thống kê) đã giải quyết một phần cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ thống kê cho các Chi cục Thống kê tỉnh và Phòng Thống kê các huyện, thị xã. Còn lại phần lớn cán bộ thống kê, xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ thống kê hợp tác xã, thống kê các ngành nông, lâm trường, xí nghiệp quốc doanh và một phần nhỏ cán bộ thống kê của Chi cục Thống kê là do Chi cục Thống kê tỉnh đào tạo theo hệ sơ cấp.
Về kết quả hoạt động chuyên môn nghiệp vụ có thể phân ra các thời kỳ:
Thời kỳ 1961 - 1965: Đây chính là thời kỳ toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Nhiệm vụ cơ bản bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: Từ cải tạo quan hệ sản xuất đến phát triển tăng cường lực lượng sản xuất; từ phát triển sản xuất đến cải thiện đời sống nhân dân; từ đi đôi với sự phát triển kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh chính trị... Cũng trong thời kỳ này nhiệm vụ chủ yếu của ngành Thống kê trong đó có Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái là phục vụ việc nghiên cứu kinh tế, xây dựng thực hiện chính sách tăng cường công tác quản lý của Đảng và Nhà nước. Công việc cụ thể của ngành Thống kê đã mở rộng diện báo cáo Thống kê định kỳ ra khắp các đơn vị quốc doanh, công ty hợp doanh và các ngành kinh tế. Báo cáo nhanh 5, 10, 15, 20 ngày được áp dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, thương nghiệp. Các chỉ tiêu số lượng ghi trong chế độ báo cáo Thống kê đều được các địa phương thực hiện tốt. Còn các chỉ tiêu chất lượng như giá thành, tình hình sử dụng thời gian và công suất của máy móc bước đầu đã được tổng hợp báo cáo.
Số lượng và chất lượng các cuộc điều tra chuyên môn đã được tăng lên. Phương pháp cũng được cải tiến như: Điều tra diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng trong nông nghiệp; bổ sung thêm những chỉ tiêu quản lý và tổ chức điều tra 1 năm 2 lần đối với chỉ tiêu thủ công nghiệp; chuyển điều tra hồi tưởng sang ghi sổ nhật ký thu - chi thường xuyên về đời sống nông dân và công nhân viên chức.
Cụ thể ở thời kỳ 1961 - 1965, Ngành Thống kê tỉnh Yên Bái đã tổ chức triển khai thực hiện được các chế độ báo cáo và điều tra thống kê sau đây:
- Triển khai thực hiện chế độ điều tra số 90/CP ngày 20/6/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc giao cho Uỷ ban Hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức điều tra thủ công nghiệp hàng năm;
- Thực hiện Quyết định số 452/TTg ngày 30/11/1961 của Thủ tướng Chính phủ về việc báo cáo thống kê cung cấp vật tư kỹ thuật hàng tháng, năm;
- Triển khai thực hiện Thông tư số 372/TTg ngày 18/9/1961 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ báo cáo tồn kho vật tư hàng năm;
- Triển khai Nghị định số 475/TTg ngày 17/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ về báo cáo thống kê định kỳ về đầu tư kiến thiết cơ bản;
- Triển khai Quyết định số 02/TTg ngày 08/01/1962 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện báo cáo thống kê xây dựng cơ bản;
- Triển khai thực hiện Nghị định số 14/CP ngày 01/02/1961 của Hội đồng Chính phủ về báo cáo thống kê tổng quỹ tiền lương;
- Thực hiện Quyết định số 119/TCTK ngày 13/7/1963 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê định kỳ lao động và tiền lương;
- Thực hiện Quyết định số 112/CP ngày 22/7/1964 của Hội đồng Chính phủ về việc xét duyệt, công nhận công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước;
- Thực hiện Quyết định số 337/TTg ngày 31/12/1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc báo cáo thống kê định kỳ công nghiệp hàng tháng, năm;
- Thực hiện Quyết định số 93/TCTK ngày 23/3/1963 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê định kỳ áp dụng cho các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh và Hợp tác xã thủ công nghiệp.
Ngoài ra còn triển khai thực hiện nhiều chế độ báo cáo và điều tra thống kê thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau của Chính phủ và của Tổng cục Thống kê…
Ngành Thống kê còn tổ chức thêm các cuộc điều tra chuyên đề để phục vụ cho việc quản lý và lao động, vật tư và tài chính...
Thời kỳ 1966 - 1972: Nhiệm vụ công tác của ngành Thống kê lúc này là phải vừa phục vụ nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, vừa phục vụ nhiệm vụ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tức là phục vụ đầy đủ kịp thời cho việc quản lý và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về tình hình sản xuất, lưu thông phân phối trong chiến tranh, tình hình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội; tình hình củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; tình hình thiệt hại chiến tranh, đặc biệt là thống kê về tình hình kinh tế phục vụ quốc phòng.
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên trong các báo cáo định kỳ và điều tra chuyên môn đã có những mặt được tăng cường và cải tiến cho phù hợp với tình hình thời chiến.
Về báo cáo định kỳ đã tăng cường báo cáo nhanh 10 đến 20 ngày; cho phép báo cáo tháng ước tính từ 10 đến 15 ngày; tinh giảm báo cáo định kỳ một cách thiết thực; chuyển một số báo cáo hàng tháng sang quý, quý sang 6 tháng, 6 tháng sang một năm đồng thời làm báo cáo Thống kê về công tác chiến tranh.
Về điều tra chuyên môn tất cả những cuộc điều tra trước đây được duy trì, ngoài ra còn tổ chức thêm một số cuộc điều tra cấp tốc về từng mặt như: Điều tra về tổ máy phát điện có công suất 10 kw trở lên, lao động thuộc khu vực nhà nước, phương tiện vận tải thô sơ, Điều tra toàn ngành cơ khí lần thứ 2, Kiểm kê tài sản cố định. Trong thống kê nông nghiệp đã có những cải tiến như điều tra diện tích gieo trồng; điều tra năng suất lúa, bổ sung thêm chỉ tiêu để tính "Ba mục tiêu" trong nông nghiệp là "5 tấn thóc/1ha", "2 đầu lợn/1ha", "1 lao động/1ha"; cuộc điều tra về lực lượng lao động trong nông nghiệp được chuyển thành định kỳ vào thời điểm 1/7 hàng năm...
Một đặc điểm ở tỉnh miền núi Yên Bái là ruộng đất mỗi vùng có một đơn vị đo lường khác nhau, để có thể tính được năng suất lúa, ngô và các loại cây trồng khác theo đơn vị hécta (ha), Chi cục Thống kê đã phối hợp với một số huyện, thị tiến hành điều tra đo đạc khoảng 10% diện tích các loại ruộng đất khác nhau để có tỷ lệ quy đổi từ giống cây trồng ra ha. Đối với các loại cây gieo hạt (lúa, ngô, đậu tương, lạc...) thì quy đổi từ hạt giống ra ha; đối với cây khác như sắn, quy từ hom ra ha... Công tác này cũng phải tiến hành trong gần 2 năm mới hoàn thành, từ đó tạo điều kiện cho việc tiến hành điều tra thống kê diện tích canh tác, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm có độ chính xác cao hơn.
Ở thời kỳ 1966 đến 1972, ngành Thống kê tỉnh Yên Bái đã tổ chức triển khai các chế độ báo cáo và điều tra thống kê sau đây:
- Triển khai thực hiện Quyết định số 583-LB ngày 01/9/1967 của Liên Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê về chế độ ghi chép ban đầu áp dụng cho các đơn vị cơ sở;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 02/TCTK ngày 05/01/1971 của Tổng cục Thống kê về việc triển khai áp dụng bảng giá cố định mới 1970;
- Thực hiện Quyết định 486/TCTK ngày 02/6/1966 của Tổng cục Thống kê về việc triển khai áp dụng quy định về việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp;
- Thực hiện Thông tư số 459/TCTK-CN ngày 11/5/1967 của Tổng cục Thống kê về việc áp dụng phân tổ hợp tác xã tiểu công nghiệp và hợp tác xã thủ công nghiệp trong công nghiệp địa phương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 249/TCTK-PPCĐ ngày 28/12/1971 của Tổng cục Thống kê về việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức về giao thông vận tải áp dụng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 47/TCTK-PPCĐ ngày 22/02/1972 của Tổng cục Thống kê về việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ chính thức về công nghiệp áp dụng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 156/TCTK-PPCĐ ngày 05/08/1971 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê định kỳ chính thức nông, lâm nghiệp áp dụng cho tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 116/TCTK-PPCĐ ngày 12/6/1971 của Tổng cục Thống kê về thực hiện báo cáo thống kê định kỳ chính thức về thương nghiệp, thu mua, ăn uống công cộng áp dụng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 137/TCTK-PPCĐ ngày 10/7/1971 của Tổng cục Thống kê về việc thực hiện báo cáo thống kê định kỳ chính thức vật tư kỹ thuật áp dụng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 118/TCTK ngày 15/6/1971 của Tổng cục Thống kê về thực hiện báo cáo xây dựng cơ bản áp dụng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 142/TCTK-PPCĐ ngày 17/7/1971 của Tổng cục Thống kê về thực hiện chế độ báo cáo thống kê dân số;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 163/TCTK-PPCĐ ngày 13/8/1971 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê định kỳ về giáo dục, văn hoá, y tế, truyền thanh, thể dục - thể thao, nhà ăn tập thể áp dụng cho tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Trong giai đoạn 1965 - 1972 ngoài việc triển khai thực hiện các chế độ báo cáo định kỳ chính thức áp dụng cho các ngành nêu trên, thì Cục Thống kê tỉnh Yên Bái còn triển khai nhiều chế độ điều tra về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh phục vụ nhu cầu thông tin cho lãnh đạo cơ quan Đảng, chính quyền địa phương và các Bộ, ngành Trung ương. Triển khai thực hiện các chế độ ghi chép ban đầu áp dụng cho các đơn vị cơ sở thuộc các ngành... Nhờ vậy mà kết quả hoạt động của ngành Thống kê Yên Bái ngày càng lớn, phục vụ ngày càng tốt hơn cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở địa phương và Trung ương như đã nêu trên.
Thời kỳ 1973 - 1975: Nhiệm vụ đề ra cho ngành Thống kê là đẩy mạnh công tác thông tin kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 02-CP của Hội đồng Chính phủ xây dựng và tổ chức hệ thống hạch toán thống nhất, đẩy mạnh việc cơ khí hoá tính toán, quản lý tổ chức Thống kê nhà nước theo Ngành dọc. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Ngành Thống kê đã xây dựng được chế độ báo cáo nhanh 5, 10, 15, 20 ngày. Triển khai việc thực hiện chế độ báo cáo Thống kê - Kế toán định kỳ ở các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, cung cấp vật tư, thương nghiệp. Tổ chức một số cuộc điều tra lớn như: Kiểm kê tài sản; điều tra vốn lưu động; tồn kho vật tư hàng hoá và Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc lần thứ 2 vào 0h ngày 01/4/1974. Tất cả số liệu thu thập được đã phục vụ tốt yêu cầu quản lý của các cấp, các ngành ở địa phương.
Ở thời kỳ 1973 - 1975, ngành Thống kê tỉnh Yên Bái đã tổ chức triển khai được các chế độ báo cáo và điều tra thống kê sau đây:
- Triển khai thực hiện Quyết định số 198/QĐ-LB ngày 30/4/1975 của Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính - Ban Liên hiệp Hợp tác xã tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp về chế độ hạch toán thống nhất áp dụng cho các Hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp của tỉnh;
- Thực hiện Quyết định 188/TCTK-PPCĐ ngày 09/7/1974 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê kế toán định kỳ chính thức của các xí nghiệp xây lắp nhận thầu, các Ban kiến thiết công trình xây dựng cơ bản do địa phương quản lý;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 215/QĐ ngày 23/9/1974 của Tổng cục Thống kê về thực hiện chế độ ghi chép ban đầu áp dụng cho các đơn vị cơ sở xây lắp trong tỉnh;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 3526/QĐ-LB ngày 13/8/1973 của Liên Bộ Tổng cục Thống kê - Bộ Giao thông Vận tải về thực hiện chế độ ghi chép ban đầu áp dụng trong khâu giao nhận và vận chuyển hàng hoá bằng phương tiện ô tô;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 09/QĐ-LB ngày 01/01/1973 của Liên Bộ Tổng cục Thống kê - Bộ Y tế về thực hiện chế độ ghi chép ban đầu lưu chuyển hàng hoá của ngành Thương nghiệp dược phẩm;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 10/QĐ-LB ngày 01/01/1973 của Liên Bộ Tổng cục Thống kê - Bộ Y tế về thực hiện báo cáo thống kê định kỳ chính thức áp dụng cho các đơn vị kinh tế cơ sở thương nghiệp quốc doanh thuộc ngành Y tế;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 130/QĐ-LB ngày 14/6/1975 của Liên Bộ Tổng cục Thống kê - Bộ Văn hoá về thực hiện chế độ ghi chép ban đầu và thực hiện chế độ báo cáo kinh tế - kế toán định kỳ chính thức áp dụng cho các đơn vị phát hành sách thuộc Bộ Văn hoá;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 157/TCTK-PPCĐ ngày 10/8/1973 của Tổng cục Thống kê về điều tra và tổng kiểm kê tài sản áp dụng cho các cơ sở kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh của tỉnh;
- Triển khai thực hiện Thông tư số 02/TT-LB-NH ngày 20/3/1975 của Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính - Ngân hàng về việc điều tra tình hình nợ khê đọng trong các hợp tác xã trong tỉnh.
Ngoài ra, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái còn phối hợp với các sở, ngành triển khai thực hiện các chế độ báo cáo và điều tra thuộc lĩnh vực các ngành trên địa bàn tỉnh do Tổng cục Thống kê ban hành.
Về các ấn phẩm đã xuất bản: Trong điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác in ấn sao chép văn bản thời kỳ này có nhiều hạn chế, chỉ có máy chữ, máy in Rônêo; giấy đánh máy là giấy Pơ - luya, giấy in chất lượng thấp. Mặt khác thời kỳ này tình hình cơ quan không ổn định về địa điểm, phải di chuyển nhiều lần, nên phần lớn tài liệu bị thất lạc không còn nguyên vẹn. Phòng Tổng hợp của cơ quan chỉ còn lưu giữ được bản chép tay số liệu lịch sử (Niên giám Thống kê 16 năm 1954 - 1970 tỉnh Yên Bái).
Chương III
THỐNG KÊ YÊN BÁI THỜI KỲ HỢP NHẤT 3 TỈNH
YÊN BÁI - LÀO CAI - NGHĨA LỘ
THÀNH TỈNH HOÀNG LIÊN SƠN (1976 - 1991)
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
Ngày 27/12/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Việt Nam - Dân chủ - Cộng hoà khoá V, Quyết định bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam - Dân chủ - Cộng hoà. Hợp nhất 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ 2 huyện Bắc Yên, Phù Yên của tỉnh Nghĩa Lộ nhập về tỉnh Sơn La) thành một tỉnh mới là tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn khi hợp nhất có diện tích tự nhiên 14.852 km2. Phía Bắc có đường biên giới chung với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa dài 160 km (trong đó đất liền 60 km; đường sông 100 km). Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phú, phía Đông giáp tỉnh Hà Tuyên và phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn gồm 17 huyện, thị, chia theo các vùng:
- Vùng cao gồm 6 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, Trạm Tấu, Mù Cang Chải;
- Vùng cao xen kẽ vùng thấp gồm 6 huyện: Văn Chấn, Than Uyên, Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Yên và Văn Bàn;
- Vùng thấp bao gồm 5 huyện, thị: Thị xã Lào Cai, thị xã Yên Bái và các huyện Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên.
Khi mới thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn có dân số 688.250 người, mật độ dân số trung bình năm 1976 là 46 người/1km2 bao gồm trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh đông nhất, rồi đến dân tộc Mông, Tày, Dao, Thái... Đến 31/12/1990 dân số tỉnh Hoàng Liên Sơn là 1.090.060 người, lúc này mật độ dân số trung bình đạt 73 người/1km2.
Tháng 7/1976, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tỉnh Hoàng Liên Sơn được đón đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lên thăm và làm việc. Đồng chí Lê Duẩn đã động viên nhân dân địa phương phấn đấu xây dựng nền kinh tế từng huyện phải trở thành các đơn vị kinh tế cơ bản công - nông nghiệp.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn lần thứ I (vòng 1 tháng 11/1976, vòng 2 tháng 4/1977) đánh giá những thắng lợi, chỉ rõ những thiếu sót, tồn tại cần khắc phục và đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung của tỉnh là "Xây dựng một tỉnh có nền kinh tế, văn hoá phát triển toàn diện, có công - nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". Trên cơ sở đó từng bước cải thiện đời sống nhân dân và góp phần tích luỹ vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của cả nước, đưa tỉnh Hoàng Liên Sơn nhanh chóng trở thành một tỉnh giàu có về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng, có đời sống ngày càng văn minh, hạnh phúc.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn trong kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976 - 1980) đã hình thành 5 vùng chuyên canh nông - lâm nghiệp với những cây, con chủ yếu là:
- Vùng cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày như: Chè, trẩu, quế, sở... ở các huyện Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Trạm Tấu và thị xã Yên Bái;
- Vùng sản xuất thực phẩm, gỗ trụ mỏ và cây đặc sản ở Văn Bàn, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát;
- Vùng nguyên liệu giấy, sợi và nuôi thả cá hồ ở Yên Bình, Lục Yên, Bảo Yên;
- Vùng chăn nuôi trâu, bò thịt, bò sữa và trồng chè, trẩu ở Mù Cang Chải và Than Uyên;
- Vùng rừng đầu nguồn, đậu tương và cây dược liệu ở Mường Khương, Bắc Hà.
Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng nên sự kiện "nạn kiều" dụ dỗ cưỡng ép người Hoa về nước, cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước. Ngày 17/02/1979 Trung Quốc chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Ngày 05/3/1979 Trung Quốc tuyên bố rút quân và ngày 12/3/1979 trên tuyến biên giới tỉnh Hoàng Liên Sơn, quân Trung Quốc đã rút hết về nước.
Cuộc chiến tranh biên giới đã gây không ít khó khăn cho nhân dân các dân tộc tỉnh Hoàng Liên Sơn trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất và phát triển kinh tế. Mặc dù Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoàng Liên Sơn đã có nhiều cố gắng, nhưng kết quả đạt được trên nhiều lĩnh vực chưa cao. Về kinh tế - xã hội vẫn trong tình trạng mất cân đối về nhiều mặt, lương thực vật tư, tiền vốn phụ thuộc phần lớn vào hỗ trợ của Trung ương. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tuy phát triển nhưng chậm. Một số cơ sở sản xuất ở khu vực có chiến tranh biên giới phải ngừng sản xuất. Việc chỉ đạo sắp xếp lại các cơ sở sản xuất công nghiệp và củng cố các hợp tác xã thủ công nghiệp sau chiến tranh biên giới còn chậm, công tác lưu thông phân phối, quản lý tài chính, thị trường còn nhiều bất cập.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn Lần thứ II (tháng 9/1980) và thông báo số 22 (ngày 21/10/1980) của Ban Chấp hành Trung ương, chính thức cho các địa phương khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động đối với cây lúa. Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn đã tổ chức chỉ đạo cho một số hợp tác xã nông nghiệp làm thí điểm. Ngày 13/01/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 CT/TW về khoán sản phẩm đến người lao động. Toàn tỉnh có 516/629 hợp tác xã nông nghiệp thực hiện khoán theo Chỉ thị 100. Hầu hết xã viên trong các hợp tác xã thực hiện khoán đã có sự quan tâm đúng mức đến việc thâm canh, áp dụng các biện pháp khoa học tiên tiến để đạt được năng suất và sản lượng cao, vượt mức khoán được giao.
Ngày 06/11/1982, Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn tiến hành Đại hội lần thứ III. Đại hội đã chỉ ra những khuyết điểm tồn tại của cán bộ, Đảng viên của các cấp, các ngành trong chỉ đạo và quản lý phát triển sản xuất, và đề ra các mục tiêu phấn đấu đẩy mạnh các mặt kinh tế - xã hội, tăng cường củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, củng cố tuyến phòng thủ biên giới đảm bảo an ninh trật tự, nâng cao hiệu lực và hoạt động của các cấp chính quyền, đoàn thể quần chúng, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng.
Đến năm 1985, tỉnh Hoàng Liên Sơn đã từng bước tháo gỡ được những khó khăn và đạt được những thành tựu đáng kể. Sản xuất đã có bước phát triển tương đối toàn diện theo hướng kết hợp nông - công nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản. Cơ chế khoán mới trong nông nghiệp đã có tác dụng tích cực thúc đẩy người lao động hăng say sản xuất. Đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.
Tháng 8/1985, Chính phủ có cuộc điều chỉnh Giá - Lương - Tiền trên phạm vi cả nước, nhưng do không lường hết được những khó khăn về thực lực kinh tế của cả nước, nên cuộc điều chỉnh này không thành công, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của nhân dân trong đó có nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái.
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật đã nghiêm túc kiểm điểm những mặt yếu kém, những khó khăn gay gắt và chỉ ra những nguyên nhân chủ quan của tình trạng yếu kém. Đại hội mở đường cho sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng. Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới là: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, xoá bỏ tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế; điều chỉnh lại quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất xã hội, thực hành dân chủ hoá đời sống kinh tế; chuyển cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện hạch toán kinh tế; kiên định và nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chuyển sự cấp phát bằng hiện vật và bao cấp sang sử dụng quy luật giá trị trong phân phối; chuyển quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng kinh tế mở, đa phương hoá đa dạng hoá; thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong kế hoạch 5 năm (1986 - 1990) Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn tập trung lãnh đạo triển khai công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, tìm cách tháo gỡ thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Các giải pháp chủ yếu được đề cập đến là: Đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, tập trung mọi nguồn lực, các thành phần kinh tế thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Phấn đấu đảm bảo lương thực tại chỗ, từng bước ổn định đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh. Tiếp tục đổi mới cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 trong nông nghiệp; sắp xếp lại các đội sản xuất cho phù hợp với quy mô các hợp tác xã theo từng khu vực thôn bản; quản lý chặt chẽ đất đai và đặc biệt là thực hiện chính sách ưu tiên vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp để các địa phương có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư thâm canh các loại giống cây trồng, con gia súc có năng suất cao.
Tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, đã khắc phục những nhược điểm tồn tại của Chỉ thị 100. Ban thường vụ Tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn đã xây dựng và ban hành Nghị quyết về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông thôn một cách kịp thời, phù hợp với tình hình cụ thể của tỉnh đảm bảo theo đúng tinh thần Nghị quyết 10 Bộ Chính trị.
Đến năm 1990, sản lượng lương thực quy thóc đạt 289.000 tấn, tăng 16,1% so với năm 1986. Riêng năng suất lúa ruộng bình quân trên chân ruộng 2 vụ lúa toàn tỉnh đạt 59,3 tạ/ha, tăng 8,8 tạ/ha so với năm 1986. Chăn nuôi đại gia súc, gia cầm đã đạt kết quả khá. Năm 1990 đàn trâu, bò là 182.700 con, tăng 21,1% so với năm 1985; đàn lợn tăng 6,8%. Đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, có năng suất cao có giá trị xuất khẩu như vùng chè có 8.200 ha; sản lượng chè búp thu hoạch 22.000 tấn; sản lượng chè chế biến (bao gồm cả chè đen của quốc doanh) đạt trên 3.000 tấn. Vùng quế diện tích đạt gần 10.000 ha, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 1.000 tấn vỏ. Diện tích rừng trồng mới từ 1986 đến 1990 đạt 46.300 ha. Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chế biến chè, gỗ, khoáng sản, vật liệu xây dựng có xu hướng tăng về số lượng và đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng cao.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoàng Liên Sơn dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã bước đầu phát huy được những thế mạnh của tỉnh, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của các thành phần kinh tế, có sự cạnh tranh lành mạnh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo phần lớn các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vật tư nguyên liệu cho sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, góp phần đáng kể vào sự ổn định giá cả thị trường.
Tuy nhiên bên cạnh những thắng lợi vẫn còn bộc lộ một số khuyết điểm yếu kém đó là: Nền kinh tế của tỉnh vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường còn lúng túng và có nhiều bất cập, do đó đã ảnh hưởng tới năng suất - chất lượng và hiệu quả kinh tế. Cơ cấu kinh tế không hợp lý, mất cân đối nhất là trong các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân và hộ gia đình.
II. HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
1. Bộ máy tổ chức
Tháng 4/1976, Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 Chi cục Thống kê Lào Cai, Nghĩa Lộ, Yên Bái.
Để ổn định bộ máy tổ chức, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn đã thống nhất với Tổng cục Thống kê bổ nhiệm Ban lãnh đạo Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Đồng chí Nguyễn Huy Bông, Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Nghĩa Lộ giữ chức Chi cục trưởng.
Các đồng chí giữ chức vụ Phó Chi cục trưởng bao gồm:
- Đồng chí Trần Đình Mai nguyên Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Nghĩa Lộ;
- Đồng chí Trần Văn Gấm nguyên Phó Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Yên Bái.
- Đồng chí Đỗ Ký nguyên Phó chi cục trưởng Chi cục Thống kê Lào Cai.
Trên cơ sở tổ chức ở 3 Chi cục, Ban lãnh đạo đã lựa chọn, bố trí các phòng nghiệp vụ và các chức danh lãnh đạo cụ thể.
Ở Văn phòng Cục gồm:
1. Phòng Tổ chức: Đồng chí Hoàng Trụ - Trưởng phòng
2. Phòng Hành chính: Đồng chí Nguyễn Hồng Hoà - Trưởng phòng
3. Phòng Tổng hợp: Đồng chí Lê Trọng Mẫn - Trưởng phòng
4. Phòng Công nghiệp: Đồng chí Nguyễn Đình Quảng - Trưởng phòng
5. Phòng Xây dựng cơ bản: Đồng chí Phạm Ngọc Khiếu - Trưởng phòng
6. Phòng Nông, lâm nghiệp: Đồng chí Ma Ngọc Cấn - Trưởng phòng
7. Phòng Cân đối: Đồng chí Phạm Bá Chuông - Trưởng phòng
8. Phòng Thương nghiệp: Đồng chí Phạm Dụ - Trưởng phòng
9. Phòng Dân số - văn xã: Đồng chí Mai Vi - Trưởng phòng
10. Phòng Máy tính: Đồng chí Lê Văn Mùi - Trưởng phòng
11. Trường nghiệp vụ sơ cấp thống kê: Đồng chí Nguyễn Ngọc Thọ phụ trách
Ở các huyện, thị xã gồm:
1. Thị xã Lào Cai: Đồng chí Bùi Khang - Trưởng phòng
2. Huyện Bát Xát: Đồng chí Nguyễn Văn Miên - Trưởng phòng
3. Huyện Bảo Thắng: Đồng chí Nguyễn Hán Diện - Trưởng phòng
4. Huyện Sa Pa: Đồng chí Phạm Hữu Lợi - Trưởng phòng
5. Huyện Văn Bàn: Đồng chí Lý Văn Lình - Trưởng phòng
6. Thị xã Yên Bái: Đồng chí Nguyễn Thái Khiên - Trưởng phòng
7. Huyện Văn Yên: Đồng chí Vũ Ngọc Tích - Trưởng phòng
8. Huyện Trấn Yên: Đồng chí Bùi Văn Ngân - Trưởng phòng
9. Huyện Văn Chấn: Đồng chí Đỗ Ngọc Trân - Trưởng phòng
10. Huyện Trạm Tấu: Đồng chí Tô Đức Chính - Trưởng phòng
11. Huyện Bảo Yên: Đồng chí Hoàng Văn Nhất - Trưởng phòng
12. Huyện Lục Yên: Đồng chí Vũ Ngọc Tứ - Trưởng phòng
13. Huyện Yên Bình: Đồng chí Đặng Duy Tiên - Trưởng phòng
14. Huyện Than Uyên: Đồng chí Hồng Công Du - Trưởng phòng
15. Huyện Mù Cang Chải: Đồng chí Nguyễn Văn Cẩn - Trưởng phòng
16. Huyện Mường Khương: Đồng chí Nguyễn Đình Nhiêu - Trưởng phòng
17. Huyện Bắc Hà: Đồng chí Trần Đình Lập - Trưởng phòng
Thời kỳ đầu mới hợp nhất vẫn còn 2 thị xã là:
- Thị xã Cam Đường, Đồng chí Nguyễn Văn Phát - Trưởng phòng (sau đó sáp nhập vào Phòng Thống kê thị xã Lào Cai).
- Thị xã Nghĩa Lộ, Đồng chí Trần Văn Minh - Trưởng phòng (sau đó sáp nhập vào Phòng Thống kê huyện Văn Chấn).
Cuối năm 1976, đồng chí Trần Văn Gấm, Phó Chi cục trưởng chết do bệnh hiểm nghèo. Đầu năm 1979 Tổng cục Thống kê giải quyết chế độ nghỉ hưu cho đồng chí Đỗ Ký - Phó Chi cục trưởng, đồng thời bổ nhiệm đồng chí Ma Ngọc Cấn giữ chức Phó Chi cục trưởng.
Đến năm 1980, đồng chí Ma Ngọc Cấn được Tổng cục Thống kê điều động tăng cường lãnh đạo cho Chi cục Thống kê tỉnh Cao Bằng. Lãnh đạo Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn còn lại 2 đồng chí Nguyễn Huy Bông - Chi cục trưởng và Trần Đình Mai - Phó chi cục trưởng.
Năm 1982, đồng chí Nguyễn Huy Bông - Chi cục trưởng được Tổng cục Thống kê giải quyết chế độ nghỉ hưu, đồng thời cử đồng chí Trần Đình Mai giữ chức quyền Chi cục trưởng và tháng 8/1982 bổ nhiệm thêm 2 đồng chí Phó Chi cục trưởng là Lã Văn Chỉnh và Lê Trọng Mẫn.
Tháng 02/1984, Tổng cục Thống kê đã có quyết định cử đồng chí Trần Đình Mai giữ chức Chi cục truởng.
Tháng 11/1987, Tổng cục Thống kê giải quyết chế độ nghỉ hưu cho đồng chí Trần Đình Mai và đề bạt đồng chí Lã Văn Chỉnh giữ chức Chi cục trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Cống giữ chức Phó Chi cục trưởng. Như vậy, Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn từ cuối năm 1987 đến khi chia tỉnh, ban lãnh đạo gồm 3 đồng chí: Lã Văn Chỉnh, Lê Trọng Mẫn, Nguyễn Văn Cống.
Tháng 12/1987, Ban Bí thư Trung ương ra thông báo số 46/TB-TW về việc sáp nhập một số bộ ngành và giảm đầu mối tổ chức ở các địa phương. Theo đó, Tổng cục Thống kê làm thủ tục chuyển giao tổ chức Thống kê các địa phương về Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý. Lúc này Tổng cục Thống kê chỉ còn làm nhiệm vụ giao kế hoạch công tác, quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho các Chi cục Thống kê địa phương.
Thực hiện thông báo số 46/TB-TW, đầu năm 1989 Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn có quyết định sáp nhập Chi cục Thống kê vào Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước tỉnh. Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn chuyển địa điểm đến chỗ làm việc mới (Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Hoàng Liên Sơn) trả lại cơ sở cũ, để Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hoàng Liên Sơn quản lý sử dụng.
Tuy nhiên việc sáp nhập nêu trên chỉ mang tính hình thức và thủ tục. Ban lãnh đạo, các phòng nghiệp vụ, công tác tổ chức, con dấu, tài khoản và kinh phí hoạt động của Chi cục Thống kê vẫn giữ nguyên như cũ, và tồn tại độc lập với Uỷ ban Kế hoạch tỉnh.
Các phòng nghiệp vụ thuộc Văn phòng Chi cục năm 1989 gồm có:
1. Phòng Tổ chức - Hành chính: Đồng chí Hà Đình Đại - Trưởng phòng;
2. Phòng Nông nghiệp: Đồng chí Vũ Đức Tạc - Trưởng phòng;
3. Phòng Công nghiệp - Xây dựng: Đồng chí Nguyễn Văn Thực - Trưởng phòng;
4. Phòng Tổng hợp - Dân số: Đồng chí Nguyễn Ngọc Tuấn - Trưởng phòng;
5. Phòng Thương mại - Đời sống: Đồng chí Lê Thị Nhung - Trưởng phòng.
Đội ngũ cán bộ của Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn những ngày đầu mới thành lập được coi là tương đối hoàn thiện, số lượng được tăng cường, chất lượng được đảm bảo. Hầu hết các phòng nghiệp vụ thuộc Văn phòng Chi cục đều có cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành Thống kê, đội ngũ cán bộ các huyện, thị xã hầu hết có trình độ trung cấp thống kê và đều có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Riêng đội ngũ thống kê xã, phường, thị trấn không ổn định, luôn có sự biến động. Trong thời gian này, mặc dù hàng năm ngành Thống kê đã chủ động có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ thống kê xã, phường, thị trấn, thống kê các cơ sở kinh tế quốc doanh, tập thể nhưng chỉ được một thời gian ngắn các đồng chí này lại được điều động đi làm công việc khác, cho nên công việc thống kê ở các xã, phường, thị trấn gặp không ít khó khăn. Từ năm 1986 khi thực hiện công cuộc đổi mới số lượng cán bộ thống kê hợp tác xã không còn; cán bộ thống kê xã, phường, thị trấn không được hưởng riêng một định xuất, mà do cán bộ thuộc ngành khác của xã, phường kiêm nhiệm.
2. Chức năng, nhiệm vụ
Nghị định số 72/CP năm 1974 của Hội đồng Chính phủ đã quy định chức năng, nhiệm vụ của ngành Thống kê từ năm 1974 cho đến những năm 1980.
Từ trước năm 1976, phạm vi hoạt động của Tổng cục Thống kê chỉ bao gồm các tỉnh miền Bắc, sau năm 1976 đã mở rộng ra toàn quốc. Đây là một đặc điểm quan trọng đòi hỏi ngành Thống kê phải có những thay đổi về hệ thống tổ chức, lực lượng lao động và chuyên môn nghiệp vụ để nhanh chóng đưa ngành Thống kê có những bước tiến vượt bậc phục vụ yêu cầu của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương.
Đặc trưng của công tác quản lý kinh tế, xã hội ở nước ta thời kỳ 1976 - 1986 là kế hoạch hoá tập trung cao độ. Những mục tiêu cơ bản của cả nước, từng địa phương, từng ngành sản xuất... đều phải theo chỉ tiêu kế hoạch giao từ trên xuống. Như vậy yêu cầu đặt ra đối với công tác thống kê thời kỳ này là trên cơ sở phương pháp thống kê xã hội chủ nghĩa ngành Thống kê phải luôn bám sát để phản ánh trung thực, kịp thời tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước từ cơ sở lên đến toàn quốc.
a) Đối với cơ quan Tổng cục Thống kê đảm bảo đáp ứng nhu cầu thông tin của Chính phủ và các bộ, ngành về những vấn đề:
- Tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành kinh tế và của từng địa phương. Các thông báo về mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch nhà nước;
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, phân tích các mặt cân đối chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân;
- Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội (theo từng chuyên đề) khi có vấn đề mới phát sinh kèm theo những kiến nghị với Đảng và Nhà nước giải quyết những mặt cấp bách, quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, quản lý nhà nước;
- Các bảng cân đối báo cáo có phân tích về tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân về thu chi tiền tệ của dân cư, về lao động, vật tư, các bảng cân đối về tài chính tổng hợp và cân đối liên ngành;
- Thu thập tổng hợp và hệ thống hoá số liệu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, sưu tầm và hệ thống hoá số liệu thống kê của nước ngoài để so sánh được một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hoá của nước ta với các nước trên thế giới;
- Thống nhất việc quản lý công bố cung cấp số liệu thống kê theo chế độ bảo mật của nhà nước;
- Trình Chính phủ ban hành các chế độ thống nhất của nhà nước về hạch toán kế toán và thống kê, về hệ thống chỉ tiêu, về phân ngành kinh tế, phân loại xí nghiệp, về danh mục, sản phẩm gốc... để sử dụng thống nhất trong công tác kế hoạch, tài chính, công tác kế toán và thống kê;
- Xây dựng và ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo mà các Bộ, Tổng cục và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố phải làm báo cáo gửi Tổng cục Thống kê kèm theo chế độ của nhà nước quy định; xây dựng và ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê và kế toán thống nhất cho các đơn vị quốc doanh và tập thể;
- Xây dựng chương trình dài hạn và hàng năm về điều tra thống kê và quản lý thống nhất việc thực hiện chương trình đó; nghiên cứu xây dựng và chỉ đạo thực hiện các phương pháp điều tra thống kê, tổ chức thực hiện các cuộc điều tra lớn về kinh tế - xã hội của nhà nước có liên quan đến nhiều bộ, ngành;
- Phối hợp với bộ liên quan xây dựng mẫu và từng bước tiêu chuẩn hoá hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu thống nhất giữa ba loại hạch toán (hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật);
- Kiểm tra các ngành, các cấp về tính chính xác của số liệu kế toán và thống kê, việc chấp hành các chế độ, phương pháp về hạch toán kế toán và thống kê mà Hội đồng Chính phủ hoặc Tổng cục Thống kê đã ban hành.
b) Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê, đồng thời thực hiện nhiệm vụ do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố giao cho:
- Tổ chức và chỉ đạo thống nhất công tác hạch toán, kế toán và thống kê ở địa phương;
- Báo cáo với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố các bảng số liệu và phân tích về mức độ hoàn thành kế hoạch nhà nước và tình hình phát triển kinh tế, văn hoá từng thời kỳ ở địa phương, lập các báo cáo thực hiện về cân đối kinh tế, cung cấp các số liệu để địa phương nghiên cứu xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn hạn;
- Kiểm tra tính chính xác của số liệu về tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước của các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở địa phương;
- Thống nhất quản lý, công bố và cung cấp số liệu thống kê của địa phương. Ra thông báo về mức độ hoàn thành kế hoạch nhà nước ở địa phương.
c) Phòng Thống kê cấp huyện, thị xã có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã:
- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện các cuộc điều tra và chế độ báo cáo của nhà nước trong phạm vi huyện để gửi về Chi cục Thống kê. Báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp huyện tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, tình hình phát triển kinh tế và văn hoá của từng địa phương;
- Thống nhất quản lý và cung cấp số liệu thống kê của cấp huyện, tổ chức thực hiện chế độ thống nhất hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và chế độ ghi chép ban đầu trong các đơn vị cơ sở quốc doanh do cấp huyện quản lý và các đơn vị cơ sở thuộc khu vực tập thể.
Ngày 20/5/1988, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh ban hành Pháp lệnh Kế toán - Thống kê, theo đó chức năng tham mưu quản lý nhà nước về công tác hạch toán kế toán trên địa bàn tỉnh chuyển giao sang Sở Tài chính thực hiện. Lúc này Tổng cục Thống kê cũng đã từng bước có những điều chỉnh về nhiệm vụ chuyên môn nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới của Đảng là đáp ứng thông tin cho việc theo dõi triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1986 - 1990) ở các cấp, các ngành trong phạm vi toàn quốc. Tổng cục Thống kê đã bổ sung thêm các chế độ báo cáo các chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện 3 chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Phản ánh tình hình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó chuyển nền nông nghiệp mang nặng tính tự cấp, tự túc, tập thể hoá tràn lan thành nền nông nghiệp hàng hoá với cơ cấu nhiều thành phần trong đó kinh tế hộ nông dân giữ vai trò chủ yếu. Ban hành chế độ báo cáo thống kê giá cả áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước, chế độ điều tra giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ áp dụng cho các Chi cục Thống kê.
Cùng với việc ban hành chế độ báo cáo mới ở một số lĩnh vực, Tổng cục Thống kê còn bãi bỏ một số chế độ báo cáo và các báo cáo đang áp dụng cho các Chi cục Thống kê, bỏ báo cáo cân đối lao động xã hội; chuyển công tác theo dõi thống kê tiến độ sản xuất nông nghiệp từ ngành Thống kê sang ngành Nông nghiệp. Thực hiện Quyết định số 09/TCTK-PPCĐ ngày 02/11/1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê bắt đầu từ năm 1990, bãi bỏ việc tham gia xét duyệt và lập báo cáo quyết toán cấp phát tem phiếu các mặt hàng thực phẩm, công nghệ phẩm cho cán bộ viên chức và các đối tượng hưởng chính sách bảo hiểm xã hội; xét duyệt quyết toán sử dụng vật tư của các đơn vị cơ sở và các cơ quan quản lý cấp trên (Sở, ngành, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố); xét duyệt hoàn thành kế hoạch nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố.
Từ cuối năm 1990, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành tương đối đồng bộ hệ thống chế độ báo cáo và điều tra thống kê áp dụng cho các Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố giai đoạn 1991 - 1996 về các lĩnh vực thống kê công nghiệp; thống kê nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; thống kê thương nghiệp, giá cả; thống kê xây dựng cơ bản, giao thông vận tải; thống kê dân số - lao động, đời sống - văn xã; thống kê cân đối tài chính ngân hàng và thống kê tổng hợp.
III. CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Khi mới hợp nhất thì địa điểm tỉnh lỵ Hoàng Liên Sơn đóng tại thị xã Lào Cai, Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn tập kết tại đồi 117, thuộc phố Tèo - thị xã Lào Cai. Phòng làm việc của các phòng nghiệp vụ là nhà xây cấp 4. Trừ số cán bộ công chức của tỉnh Lào Cai có nhà riêng, còn lại số cán bộ công chức của 2 tỉnh Yên Bái và Nghĩa Lộ được bố trí ở tập thể (kể cả cán bộ độc thân và hộ gia đình). Do làm tốt công tác di chuyển, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo ở từng Chi cục Thống kê, nên khâu tổ chức sớm được ổn định, cán bộ công chức yên tâm, phấn khởi tập trung vào công tác nghiệp vụ được giao.
Phương tiện làm việc phục vụ cho công tác nghiệp vụ chưa có gì mới, bàn ghế làm việc, tủ tài liệu, máy tính quay tay đều từ các tỉnh cũ chuyển đến; phương tiện thông tin liên lạc chủ yếu là công văn chuyển qua bưu điện. Cả cơ quan Văn phòng Chi cục mới chỉ có một máy điện thoại tổng đặt tại phòng hành chính và có một số máy lẻ cho lãnh đạo Chi cục và một số phòng nghiệp vụ ưu tiên; phương tiện đi lại có 2 chiếc xe con cũ loại Gát 69 và Rumani phục vụ cho lãnh đạo. Phòng làm việc của các Phòng Thống kê huyện, thị xã do huyện, thị xã bố trí chung trong Văn phòng Uỷ ban nhân dân.
Từ sau tháng 5/1978, tình hình biên giới có những diễn biến xấu, thực hiện chủ trương của Trung ương, thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Hoàng Liên Sơn được chuyển về thị xã Yên Bái. Đồng thời các cơ quan Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh Hoàng Liên Sơn chuyển địa điểm về thị xã Yên Bái. Trụ sở làm việc của Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn được chuyển về trụ sở cũ của Chi cục Thống kê Yên Bái.
Cuộc di chuyển lần này cũng diễn ra suôn sẻ, các phòng nghiệp vụ, các hộ độc thân, hộ gia đình nhanh chóng thu xếp ổn định cuộc sống để tập trung vào công tác chuyên môn.
Đầu năm 1979, Tổng cục Thống kê có chủ trương cấp kinh phí cho Chi cục Thống kê xây dựng trụ sở làm việc, Lãnh đạo Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn thành lập ban kiến thiết để xây dựng trụ sở mới của văn phòng Chi cục tại phường Đồng Tâm (nay là trụ sở của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Yên Bái).
Năm 1980, các phòng nghiệp vụ chuyển ra địa điểm mới làm việc. Thời gian này cơ sở vật chất tương đối khang trang, các phòng nghiệp vụ đều làm việc ở nhà xây cấp 4. Máy điện thoại vẫn có 1 tổng đài, nhưng hầu hết các phòng chuyên môn đều được lắp máy lẻ nên việc liên hệ công tác với Tổng cục Thống kê, với các huyện, các ngành trong tỉnh đã có nhiều thuận lợi, thông tin được cập nhật nhanh hơn, những vướng mắc trong công tác chỉ đạo nghiệp vụ được giải quyết kịp thời. Phương tiện đi lại được Tổng cục Thống kê cho mua thêm một chiếc U-oát mới (năm 1982) đồng thời cho thanh lý một xe Gát cũ. Phương tiện làm việc chủ yếu vẫn dùng máy tính quay tay (Nisa và Phi ngư) và dần dần trang bị từng bước máy tính nhỏ (bỏ túi) hiệu Casio.
IV. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Tỉnh Hoàng Liên Sơn được hình thành từ 3 tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Cai. Việc trước tiên của Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn là bên cạnh việc sắp xếp ổn định tổ chức, cơ sở vật chất, nơi ăn, chốn ở, phương tiện điều kiện làm việc cho cán bộ công chức thì còn phải tập trung tập hợp điều chỉnh số liệu về kinh tế - xã hội của 3 tỉnh thành 1 tỉnh Hoàng Liên Sơn. Trong đó 2 huyện Phù Yên và Bắc Yên thuộc tỉnh Nghĩa Lộ cũ được chuyển về cho tỉnh Sơn La cũng phải được sắp xếp bàn giao cụ thể. Những tài liệu này đã giúp cho ban soạn thảo báo cáo chính trị chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn lần thứ I vòng 1 (tháng 11/1976), vòng 2 (tháng 4/1977) đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung của tỉnh trong kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976 - 1980).
Thực hiện chủ trương của Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn tiến hành các cuộc điều tra có quy mô lớn như: Tổ chức đăng ký kinh doanh công, thương nghiệp năm 1977; kiểm kê năng lực sản xuất của các ngành, điều tra lao động kỹ thuật và công nhân viên chức năm 1978; tổng điều tra đất năm 1978; tổng điều tra dân số năm 1979; điều tra 20 năm Tết trồng cây 1960 - 1980.
Những kết quả số liệu thu được từ các cuộc điều tra đã giúp cho việc đánh giá, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về kinh tế xã hội của địa phương; xác định rõ năng lực sản xuất của các ngành; tài liệu về đất, dân số là cơ sở để nghiên cứu tổ chức và quản lý lao động, phân bố lại lao động giữa các vùng, các ngành của địa phương.
Trong thời gian này Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn vẫn duy trì đều đặn công tác báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp 5-10 ngày/lần và báo cáo nhanh ước tính hàng tháng, quý, năm về tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước.
Nội dung báo cáo tiến độ 5-10 ngày phản ánh tương đối đầy đủ các chỉ tiêu theo yêu cầu thông tin của lãnh đạo các cấp, các ngành ở tỉnh và huyện. Ngoài ra còn phản ánh những vấn đề đột xuất xảy ra như thiên tai địch họa... phục vụ các cấp, các ngành có biện pháp chỉ đạo tích cực để khắc phục hậu quả.
Các loại báo cáo thống kê định kỳ chính thức chuyên ngành kinh tế về nông - lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, vật tư lao động, tài chính ngân hàng đã phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước của toàn tỉnh, từng ngành và từng đơn vị huyện thị, từng đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể. Trên cơ sở đó Chi cục Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn đã làm báo cáo tổng kết kinh tế 5 năm (1976 - 1980) đánh giá thành tích xây dựng kinh tế của tỉnh nhà trong kế hoạch 5 năm lần thứ II và làm cơ sở cho các cấp, các ngành nghiên cứu, xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981 - 1985).
Riêng những năm 1979 - 1980, do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, một số cơ sở sản xuất bị ngừng trệ do thiếu nguyên, vật liệu, lực lượng lao động phân tán, cơ sở vật chất bị huỷ hoại. Ngành Thống kê đã cử cán bộ tham gia vào ban kiểm kê xác định thiệt hại do chiến tranh gây ra, nhằm cung cấp những thông tin chính xác để các cấp, các ngành có biện pháp giải quyết cụ thể, tạo điều kiện để các cơ sở có đủ vốn kịp thời khôi phục sản xuất trong thời gian ngắn nhất.
Sau Đại hội VI của Đảng, Ngành Thống kê đã có những định hướng mới, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới.
Ngoài việc thực hiện các loại báo cáo nhanh hàng tháng, quý, 6 tháng và năm, các loại báo cáo định kỳ, các cuộc điều tra thường xuyên trong nông nghiệp như điều tra diện tích, năng suất, sản lượng vụ đông xuân, vụ mùa; điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4 và 01/10 hàng năm; điều tra cơ sở vật chất kỹ thuật và hợp tác hoá trong nông nghiệp. Riêng 01/4/1989 tiến hành Tổng điều tra dân số và nhà ở trên phạm vi toàn quốc.
Hàng năm ngành Thống kê còn trực tiếp tham gia trong ban xét duyệt hoàn thành kế hoạch nhà nước cho các đơn vị sản xuất cơ sở nông, lâm trường, trạm, trại xí nghiệp quốc doanh thuộc các ngành sản xuất do địa phương quản lý.
Kết thúc năm, Chi cục Thống kê còn tiến hành thu thập, chỉnh lý và biên soạn Niên giám thống kê trong đó đã đề cập đến một số mốc so sánh quan trọng 1965 - 1970 - 1975 - 1980 - 1985 và 1990. Riêng năm 1990 đã đầu tư thời gian công sức để hoàn thành cuốn số liệu lịch sử "15 năm xây dựng và phát triển Kinh tế - Văn hoá - Xã hội tỉnh Hoàng Liên Sơn 1976 - 1990". Ngoài nhiệm vụ thực hiện kế hoạch thông tin Tổng cục thống kê quy định, ngành Thống kê còn trực tiếp phục vụ yêu cầu lãnh đạo của các cấp uỷ địa phương, đáng chú ý là chuẩn bị số liệu phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp huyện và tỉnh, số liệu phục vụ các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện.
Thời kỳ 1976 - 1991, Ngành Thống kê Yên Bái đã triển khai thực hiện các chế độ báo cáo và điều tra thống kê chủ yếu sau đây:
- Triển khai thực hiện Quyết định số 178/TCTK-PPCĐ ngày 10/5/1976 của Tổng cục Thống kê về thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức tiểu thủ công nghiệp áp dụng cho Chi cục Thống kê tỉnh;
- Thực hiện Thông tư số 1078/TCTK-CN ngày 05/11/1977 của Tổng cục Thống kê về điều tra tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Thực hiện Quyết định số 1042/QĐ-LB-XD-TCTK ngày 19/11/1976 của Liên Bộ Xây dựng - Tổng cục Thống kê về chế độ báo cáo thống kê quý, 6 tháng, năm về đầu tư xây dựng cơ bản;
- Thực hiện Quyết định số 147/QĐ-LB ngày 20/5/1978 của Liên Bộ Nông nghiệp - Tài chính - Tổng cục Thống kê - Ngân hàng về thực hiện chế độ báo cáo thống kê - kế toán áp dụng cho hệ thống các hợp tác xã;
- Thực hiện Quyết định số 339/VP-ĐTRĐ ngày 27/8/1977 của Tổng cục Thống kê về thống kê tình hình cơ bản về đất;
- Thực hiện thông tư số 06/TT-LB ngày 10/02/1980 của Liên Bộ Nông nghiệp - Tài chính - Tổng cục Thống kê - Ngân hàng về thực hiện chế độ báo cáo thống kê - kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, nông lâm nghiệp của các tỉnh miền núi;
- Triển khai thực hiện Thông tư 275/LB-LN-TCTK ngày 21/4/1980 của Bộ Lâm nghiệp - Tổng cục Thống kê về điều tra trồng cây gây rừng;
- Thực hiện Thông tư 157/TT-LB ngày 19/02/1982 của Liên Bộ Nông nghiệp và Tổng cục Thống kê về thực hiện chế độ hạch toán trong hợp tác xã nông nghiệp cho phù hợp với việc thi hành Chỉ thị 100/CT-TW;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 611-TCT/PPCĐ ngày 01/11/1978 của Tổng cục Thống kê về thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức áp dụng cho các đơn vị vận tải trong tỉnh;
- Thực hiện Thông tư số 461/TK-GTVT ngày 20/5/1980 của Tổng cục Thống kê về điều tra vận tải thuộc khu vực tập thể và cá thể;
- Triển khai thực hiện văn bản số 110/TCTK-TNDS ngày 20/5/1980 của Tổng cục Thống kê về điều tra tiểu thương;
- Triển khai Thông tư số 249/LB-TC-TCTK ngày 05/11/1977 của Liên Bộ Tài chính - Tổng cục Thống kê về công tác kiểm kê tài sản vào 0 giờ ngày 01/01/1978;
- Triển khai thực hiện Quyết định số 138/CP ngày 07/5/1980 của Hội đồng Chính phủ về tổ chức tổng kiểm kê, đánh giá lại tài sản của các đơn vị cơ sở thuộc các Ngành kinh tế của khu vực Nhà nước;
- Triển khai thực hiện Thông tư 859/TCTK-VT ngày 15/10/1980 của Tổng cục Thống kê về báo cáo thống kê cân đối, vật tư của các đơn vị sử dụng;
- Triển khai thực hiện Thông tư số 1349/TCTK-ĐS ngày 14/12/1981 của Tổng cục Thống kê về điều tra thu chi gia đình công nhân viên chức và nông dân.
Ngoài ra Ngành Thống kê Yên Bái còn thực hiện triển khai nhiều chế độ báo cáo và điều tra thống kê các lĩnh vực khác trên địa bàn tỉnh.
Chương IV
SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH
CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI THỜI KỲ 1991 ĐẾN NAY
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
Tại kỳ họp lần thứ 9, Quốc hội khoá VIII ngày 12/8/1991, Quốc hội đã quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai.
Tỉnh Yên Bái được tái lập, tại thời điểm ấy, toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm thị xã Yên Bái và 7 huyện: Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên. Ngày 01/10/1991 tỉnh Yên Bái chính thức đi vào hoạt động. Địa giới hành chính của tỉnh: Phía Bắc giáp 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai; phía Tây Nam giáp tỉnh Sơn La. Diện tích đất tự nhiên khi tái lập tỉnh là 6.807 km2. Dân số đến 31/12/1991 là 612.395 người.
Tháng 5/1992, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ I được tổ chức (sau này ngày 22/11/1995, Hội nghị Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ đã ra Nghị quyết xác định Đại hội lần thứ I của Đảng bộ tỉnh Yên Bái là Đại hội thứ XIII và Đại hội nhiệm kỳ 1996 - 2000 là Đại hội lần thứ XIV để đảm bảo tính lịch sử liên tục của quá trình xây dựng, trưởng thành của Đảng bộ tỉnh Yên Bái). Đại hội đã xác định nhiệm vụ tổng quát trong 5 năm là... "Giữ vững ổn định chính trị, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, đẩy lùi tiêu cực và bảo đảm công bằng xã hội. Phấn đấu đến năm 1995 tăng thu nhập lên 50%, đến năm 2000 lên 150% để cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, mở mang dân trí và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đưa tỉnh Yên Bái từng bước vượt qua cuộc sống khó khăn, thiếu thốn...".
Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) nổi lên một số điểm cơ bản là: Công cuộc đổi mới ở Yên Bái thu được thắng lợi quan trọng, cơ chế quản lý mới được xác lập và từng bước được hoàn thiện, cơ cấu kinh tế được xác định phù hợp với tiềm năng thế mạnh của địa phương, các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả xuất hiện ở tất cả các ngành, các thành phần kinh tế. Nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và đều qua các năm, đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện.
Tháng 5/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV xác định mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ tới (1996 - 2000) của Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh là: Khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển đạt tốc độ khá về tăng trưởng kinh tế; tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông - lâm - công nghiệp chế biến, dịch vụ và xuất khẩu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời tập trung vào các lĩnh vực giải quyết việc làm, thực hiện công bằng xã hội, phát triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, phát triển giao thông nông thôn với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" bảo đảm 80% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; hoàn thành việc đưa điện lưới quốc gia đến các huyện, các vùng trọng điểm kinh tế, khu căn cứ Cách mạng, khuyến khích nhân dân phát triển thuỷ điện nhỏ.
Tháng 6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII thành công, đã mở ra hướng đi mới cho cả nước là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Tháng 02/2001, Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XV đề ra phương hướng nhiệm vụ mục tiêu giai đoạn 2001 - 2005. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế ở mức cao và ổn định. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; hình thành vững chắc các vùng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp tập trung. Áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến, đổi mới thiết bị công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá xuất khẩu.
Tháng 12/2005, Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI khẳng định tỉnh Yên Bái đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện: Tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Huy động được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển, chú trọng công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, tập trung trọng điểm vào vùng cao. Công tác giáo dục đào tạo có nhiều chuyển biến, các cấp học, ngành học phát triển đều khắp các vùng, đã giải quyết được cơ bản tình trạng thiếu giáo viên ở vùng cao. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, công tác y tế dự phòng đã giám sát và quản lý tốt dịch bệnh, không để các vụ dịch lớn xảy ra.
Tháng 10/2010, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhận định Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Trung ương Đảng, kịp thời điều chỉnh các mục tiêu trọng tâm, đề ra các cơ chế, chính sách, giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo, điều hành vào các lĩnh vực then chốt, đồng thời huy động mọi nguồn lực, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vượt qua khó khăn, đạt được kết quả quan trọng và khá toàn diện. Đồng thời đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 2010 - 2015, trong đó: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hoá, xã hội và phát triển kinh tế; phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là khâu đột phá để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Tháng 10/2015, Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVIII tiếp tục phấn đấu xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; tiếp tục đổi mới toàn diện; phát huy truyền thống đoàn kết, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hợp lý và bền vững; tăng cường, mở rộng các hoạt động đối ngoại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương; đẩy mạnh phát triển văn hóa - xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh vững mạnh; xây dựng Yên Bái phát triển toàn diện, bền vững, trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Đến tháng 9/2020, Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX đã đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết XVIII của Đảng bộ tỉnh trong điều kiện đất nước đạt được những thành tựu quan trọng và tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tỉnh Yên Bái chịu nhiều tác động tiêu cực từ biến đổi cực đoan của thời tiết, rét đậm, rét hại kéo dài, lũ ống, lũ quét, ngập úng, sạt lở đất nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người, tài sản của nhân dân và cơ sở hạ tầng của tỉnh; tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là đại dịch Covid-19 ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống, sinh hoạt của nhân dân.
Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế, thu hút mọi nguồn lực, khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh, phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương; triển khai giải quyết hợp lý, hiệu quả các mối quan hệ lớn cho phát triển, nhất là mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển hài hòa kinh tế - xã hội - môi trường; phát huy vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc; quán triệt quan điểm, phương châm đó, Đảng bộ đã tập trung giải phóng tư tưởng, tích cực khơi thông những điểm nghẽn, đẩy mạnh sức sản xuất xã hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, toàn diện, bền vững và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, tạo những dấu ấn nổi bật.
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng được nâng lên; thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa vùng thấp và vùng cao, giữa đô thị và nông thôn; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho phát triển bền vững; thu ngân sách trên địa bàn tăng nhanh, tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện 03 đột phá chiến lược đạt kết quả rõ nét:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế, huy động và khơi dậy các nguồn lực, thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội và đổi mới hệ thống chính trị; cải cách hành chính có nhiều tiến bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược vào tỉnh;
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ, hiệu quả, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng và liên vùng, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn... góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo diện mạo đô thị và nông thôn ngày càng đổi thay, khang trang, tươi đẹp;
- Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc, đi đầu các tỉnh trong khu vực Tây Bắc. Chất lượng, hiệu quả văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, bảo đảm mọi người dân đều được chăm lo, thụ hưởng các chế độ, chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập". Giảm nghèo nhanh, bền vững với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, là điểm sáng của các tỉnh trong khu vực Tây Bắc; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; chủ động khắc phục nhanh chóng, kịp thời hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Tuy nhiên, kinh tế của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; quy mô nền kinh tế còn nhỏ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh thấp; giảm nghèo nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, đời sống của một bộ phận người dân vùng cao, vùng dân tộc thiếu số còn khó khăn; chất lượng, hiệu quả trên một số lĩnh vực văn hóa - xã hội còn hạn chế.
Cùng với những thành tựu quan trọng đạt được sau 30 năm tái lập, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh phát triển trong những năm tới; đồng thời, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách mới của Trung ương về hội nhập quốc tế sâu rộng, các chương trình mục tiêu quốc gia góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc; cơ hội khi tham gia đối tác, hợp tác hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; các chương trình, dự án động lực, trọng điểm, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng, liên vùng đã và đang hoàn thiện, cùng truyền thống lịch sử, cách mạng và giá trị, bản sắc văn hóa, con người Yên Bái sẽ tiếp tục là động lực cho giai đoạn phát triển tới.
Bên cạnh đó, Yên Bái vẫn phải đối mặt với khó khăn của một tỉnh miền núi, kinh tế chậm phát triển, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động thấp, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tỉnh; khả năng phát triển kinh tế sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 có mặt khó khăn hơn.
Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã xác định mục tiêu phát triển: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập"; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.
II. HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
1. Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2010
Tỉnh Yên Bái được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/10/1991. Cũng như các ngành khác, lực lượng cán bộ và những vấn đề liên quan đến công tác nghiệp vụ của ngành Thống kê tỉnh Hoàng Liên Sơn được phân chia cho 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai nhưng với tinh thần dành mọi điều kiện thuận lợi cho Lào Cai.
Bộ máy lãnh đạo của Chi cục Thống kê tỉnh Yên Bái gồm có đồng chí Lã Văn Chỉnh - Chi cục trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Cống - Phó Chi cục trưởng.
Các phòng Thống kê nghiệp vụ bao gồm:
1. Phòng Tổ chức - Hành chính, đồng chí Hà Đình Đại - Trưởng phòng;
2. Phòng Tổng hợp, đồng chí Vũ Đức Tạc - Trưởng phòng;
3. Phòng Công nghiệp - Xây dựng, đồng chí Nguyễn Văn Thực - Trưởng phòng;
4. Phòng Thương mại, đồng chí Lê Thị Nhung - Trưởng phòng;
5. Phòng Nông nghiệp, đồng chí Lương Thị Mỹ - Trưởng phòng.
Các phòng Thống kê huyện, thị xã bao gồm:
1. Phòng Thống kê thị xã Yên Bái, đồng chí Trần Văn Minh - Trưởng phòng;
2. Phòng Thống kê huyện Văn Chấn, đồng chí Lê Văn Ân - Trưởng phòng;
3. Phòng Thống kê huyện Trạm Tấu, đồng chí Lương Trung Đại - Trưởng phòng;
4. Phòng Thống kê huyện Mù Cang Chải, đồng chí Đinh Bá Toản - Trưởng phòng;
5. Phòng Thống kê huyện Trấn Yên, đồng chí Nguyễn Anh Vân - Trưởng phòng;
6. Phòng Thống kê huyện Văn Yên, đồng chí Vũ Ngọc Tích - Trưởng phòng;
7. Phòng Thống kê huyện Yên Bình, đồng chí Bùi Khang - Trưởng phòng;
8. Phòng Thống kê huyện Lục Yên, đồng chí Nông Văn Lịnh - Trưởng phòng.
Tháng 4/1992, đồng chí Nguyễn Văn Cống, Phó Chi cục trưởng bị chết do bệnh hiểm nghèo (tại xã Hải Châu, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định).
Tháng 6/1992, đồng chí Vũ Đức Tạc được Tổng cục Thống kê và Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm giữ chức Phó Chi cục trưởng. Thời gian này đồng chí Nguyễn Văn Thực, Trưởng phòng Công nghiệp - Xây dựng được điều sang giữ chức Trưởng phòng Tổng hợp (gồm cả nghiệp vụ Dân số - Văn xã). Đồng chí Phạm Thị Tuyết Lan được đề bạt giữ chức Trưởng phòng Công nghiệp - Xây dựng.
Đầu năm 1992, Tổng cục Thống kê hướng dẫn các Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập bộ phận thanh tra của ngành.
Tháng 10/1992, căn cứ hướng dẫn của Tổng cục Thống kê về việc thành lập bộ phận thanh tra của ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh có quyết định thành lập bộ phận Thanh tra trực thuộc lãnh đạo Chi cục Thống kê và bổ nhiệm đồng chí Hà Đình Đại - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính kiêm Chánh Thanh tra. Đồng chí Lê Gia Ngọc là thanh tra viên.
Ngày 23/3/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 23/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo đó Tổng cục Thống kê được tổ chức và quản lý theo Ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện; các Cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê đặt ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cục Thống kê quản lý trực tiếp các Phòng Thống kê ở huyện, thị xã và thành phố. Đồng thời Tổng cục Thống kê ra quyết định Cục Thống kê tỉnh Yên Bái được tổ chức theo mô hình gồm 5 phòng và 1 bộ phận cụ thể là:
1. Phòng Tổng hợp (bao gồm cả nghiệp vụ Dân số - Văn xã), đồng chí Nguyễn Văn Thực - Trưởng phòng;
2. Phòng Nông nghiệp, đồng chí Lương Thị Mỹ - Trưởng phòng;
3. Phòng Thương nghiệp, đồng chí Lê Thị Nhung - Trưởng phòng;
4. Phòng Công nghiệp, đồng chí Lê Thị Hải - Trưởng phòng;
5. Phòng Tổ chức - Hành chính, đồng chí Hà Đình Đại - Trưởng phòng;
6. Bộ phận Thanh tra trực thuộc lãnh đạo, đồng chí Hà Đình Đại kiêm Chánh Thanh tra.
Phòng Thống kê các huyện, thị xã:
1. Thị xã Yên Bái, đồng chí Trần Văn Minh - Trưởng phòng;
2. Huyện Văn Yên, đồng chí Vũ Ngọc Tích - Trưởng phòng;
3. Huyện Yên Bình, đồng chí Bùi Khang - Trưởng phòng;
4. Huyện Trấn Yên, đồng chí Nguyễn Anh Vân - Trưởng phòng;
5. Huyện Lục Yên, đồng chí Nông Văn Lịnh - Trưởng phòng;
6. Huyện Văn Chấn, đồng chí Nguyễn Ngọc Quyến - Trưởng phòng;
7. Huyện Mù Cang Chải, đồng chí Đinh Bá Toản - Trưởng phòng;
8. Huyện Trạm Tấu, đồng chí Vũ Văn Sơn - Trưởng phòng.
Tháng 5/1995, Chính phủ có quyết định thành lập thị xã Nghĩa Lộ thuộc tỉnh Yên Bái trên cơ sở thị trấn Nghĩa Lộ và một phần thuộc huyện Văn Chấn. Tổng cục Thống kê đã có quyết định thành lập Phòng Thống kê thị xã Nghĩa Lộ (Phòng Thống kê Văn Chấn được chia thành Phòng Thống kê Văn Chấn và Phòng Thống kê thị xã Nghĩa Lộ). Đồng chí Nguyễn Ngọc Quyến tiếp tục giữ chức Trưởng Phòng Thống kê huyện Văn Chấn. Đồng chí Nguyễn Văn Hà được đề bạt giữ chức Trưởng Phòng Thống kê thị xã Nghĩa Lộ.
Tháng 5/1997, do công tác tổ chức có thay đổi, đồng chí Hà Đình Đại - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính không kiêm nhiệm chức Chánh Thanh tra, đồng chí Lê Gia Ngọc được bổ nhiệm giữ chức Chánh Thanh tra Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Ngày 23/4/1998, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra quyết định số 235/1998/QĐ-TCTK về cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó Cục Thống kê tỉnh Yên Bái có mô hình 6 phòng và 1 bộ phận. Nghiệp vụ Dân số - Văn xã được tách từ Phòng Tổng hợp thành Phòng Dân số - Văn xã do đồng chí Triệu Văn Khang làm Trưởng phòng. Đồng thời, cũng trong thời gian này, đồng chí Lê Thị Nhung, Trưởng phòng Thương mại nghỉ hưu, đồng chí Đinh Thị Đại được bổ nhiệm Quyền Trưởng phòng Thương mại.
Ngày 03/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê. Hệ thống tổ chức của Tổng cục Thống kê được tổ chức theo ngành dọc gồm:
- Ở Trung ương có cơ quan Tổng cục Thống kê;
- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê tỉnh, thành phố;
- Ở huyện, quận, thị xã có Phòng Thống kê trực thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố.
Căn cứ Nghị định số 101/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ra quyết định số 63/QĐ-TCTK ngày 20/01/2004 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Về bộ máy tổ chức
Cơ quan Cục Thống kê tỉnh Yên Bái gồm có 6 phòng:
1. Phòng Tổng hợp: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê tổng hợp, tài khoản quốc gia, phương pháp chế độ, công nghệ thông tin, thi đua và thanh tra do đồng chí Nguyễn Văn Thực làm Trưởng phòng; đồng chí Lê Gia Ngọc làm Chánh Thanh tra;
2. Phòng Thống kê Nông nghiệp: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản do đồng chí Đinh Bá Toản làm Trưởng phòng;
3. Phòng Thống kê Công nghiệp: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê công nghiệp và xây dựng do đồng chí Lê Thị Hải làm Trưởng phòng;
4. Phòng Thống kê Thương mại: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ, giao thông, bưu điện và giá cả do đồng chí Đỗ Thị Bích Diệp làm Trưởng phòng;
5. Phòng Thống kê Dân số - Văn xã: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê dân số, lao động, mức sống, xã hội và môi trường do đồng chí Hoàng Thị Ánh Tuyết làm Trưởng phòng;
6. Phòng Tổ chức - Hành chính: Bao gồm các nghiệp vụ về tổ chức cán bộ, đào tạo, hành chính, quản trị và tài vụ cơ quan do đồng chí Nguyễn Chương Phát làm Trưởng phòng.
Cơ quan Thống kê cấp huyện: Mỗi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có 1 Phòng Thống kê và là phòng nghiệp vụ của Cục Thống kê đặt tại huyện, thị xã, thành phố, là đơn vị dự toán phụ thuộc, có con dấu để giao dịch theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê; 9 phòng Thống kê cấp huyện bao gồm:
1. Phòng Thống kê thành phố Yên Bái, đồng chí Trần Văn Minh - Trưởng phòng;
2. Phòng Thống kê thị xã Nghĩa Lộ, đồng chí Nguyễn Văn Hà - Trưởng phòng;
3. Phòng Thống kê huyện Văn Chấn, đồng chí Nguyễn Thiện Lưỡng - Trưởng phòng;
4. Phòng Thống kê huyện Trạm Tấu, đồng chí Vũ Văn Sơn - Trưởng phòng;
5. Phòng Thống kê huyện Mù Cang Chải, đồng chí Bùi Dũng Tiến - Trưởng phòng;
6. Phòng Thống kê huyện Trấn Yên, đồng chí Hồ Đăng Tú - Trưởng phòng;
7. Phòng Thống kê huyện Yên Bình, đồng chí Đinh Quốc Khánh - Trưởng phòng;
8. Phòng Thống kê huyện Văn Yên, đồng chí Đoàn Phúc Lợi - Trưởng phòng;
9. Phòng Thống kê huyện Lục Yên, đồng chí Bùi Thị Hoa - Trưởng phòng.
Ngày 15/12/2003, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Lương Thị Mỹ giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Tháng 3 năm 2007, đồng chí Lã Văn Chỉnh được Tổng cục Thống kê giải quyết nghỉ chế độ hưu trí. Cùng ngày đồng chí Vũ Đức Tạc được bổ nhiệm Quyền Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Ngày 01/10/2007, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Đinh Bá Toản giữ chức Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Ngày 01/10/2008, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Chương Phát giữ chức Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Về chức năng, nhiệm vụ
Cục Thống kê tỉnh Yên Bái là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê đặt tại tỉnh để giúp Tổng cục thống nhất quản lý nhà nước về công tác thống kê theo quy định của pháp luật, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch công tác do Tổng cục Thống kê giao và đảm bảo thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân địa phương.
Cục Thống kê tỉnh Yên Bái chịu sự quản lý trực tiếp về nghiệp vụ chuyên môn, tổ chức, biên chế, quỹ lương, tài chính của Tổng cục Thống kê; có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Tổ chức thực hiện và quản lý thống nhất công tác thống kê ở địa phương; thu thập, tổng hợp, phân tích, công bố, lưu trữ số liệu và dự báo thống kê, thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Tổng cục Thống kê giao và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê trên địa bàn, phục vụ sự quản lý, điều hành của các cấp lãnh đạo địa phương;
2. Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê đối với thống kê các Ngành, thống kê doanh nghiệp và thống kê xã, phường. Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các Phòng Thống kê huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
3. Biên soạn và xuất bản Niên giám và các ấn phẩm thống kê, quản lý thống nhất việc công bố và cung cấp số liệu thống kê kinh tế - xã hội ở địa phương theo quy định của Tổng cục Thống kê; chịu trách nhiệm về độ tin cậy của số liệu thông tin công bố và cung cấp;
4. Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh, tổ chức khai thác phổ biến thông tin thống kê công khai, nhanh chóng, thuận tiện đến mọi đối tượng sử dụng theo quy định của Tổng cục Thống kê;
5. Thực hiện các dịch vụ thống kê trên phạm vi địa bàn của tỉnh theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tổng cục Thống kê;
6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật pháp về công tác thống kê trên địa bàn của tỉnh. Thẩm định chuyên môn nghiệp vụ theo quy định phân cấp của Tổng cục Thống kê;
7. Thực hiện công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học vào công tác thống kê, nhằm góp phần cải tiến, đổi mới phương pháp thống kê để áp dụng có hiệu quả trong công tác chuyên môn. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê theo quy định của Tổng cục Thống kê;
8. Quản lý tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương và tuyển chọn, quản lý đội ngũ cộng tác viên thống kê theo sự phân cấp của Tổng cục Thống kê. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thống kê địa phương theo các tiêu chuẩn của ngạch công chức Ngành thống kê;
9. Lập dự toán kinh phí hàng năm theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê và tổ chức thực hiện dự toán khi được duyệt theo đúng mục đích, kế hoạch Tổng cục Thống kê giao, quản lý tài chính, tài sản theo đúng chế độ quy định;
10. Thường xuyên củng cố tổ chức thống kê ở địa phương, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Cục Thống kê với các sở, ban, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố;
11. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương giao.
Việc nghiên cứu để đổi mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội là đòi hỏi bức thiết của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ trung ương đến địa phương đối với ngành Thống kê, nhất là trong việc cung cấp thông tin phục vụ xây dựng chiến lược 10 năm, kế hoạch 5 năm, hàng năm và đánh giá kết quả thực hiện chiến lược kế hoạch đó trong từng thời kỳ, đồng thời đảm bảo yêu cầu so sánh quốc tế. Yêu cầu này đã được thể hiện trong Quyết định 141/2002/QĐ-TTg ngày 21/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt định hướng phát triển Thống kê Việt Nam đến năm 2010: "Xây dựng và thể chế hoá hệ thống chỉ tiêu quốc gia theo hướng đồng bộ, phản ánh được yêu cầu cơ bản về thông tin thống kê của các đối tượng sử dụng đủ để so sánh với hệ thống chỉ tiêu thống kê của các nước trong khu vực và thế giới, trong đó chú trọng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp...".
Các nhóm chỉ tiêu Thống kê cần đổi mới là:
- Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục vụ quản lý vĩ mô của Đảng và Nhà nước;
- Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của các Ngành, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế;
- Các chỉ tiêu văn hoá, xã hội, môi trường, so sánh quốc tế, hội nhập quốc tế;
- Các chỉ tiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Về phạm vi và phương pháp thu thập thông tin thống kê: Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, các đơn vị hành chính sự nghiệp, số liệu thu thập chủ yếu qua các chế độ báo cáo thống kê định kỳ. Đối với kinh tế cá thể và hộ gia đình, thông qua các cuộc điều tra điển hình, điều tra mẫu để thu thập thông tin.
Trong giai đoạn này, việc thu thập thông tin thống kê bằng các phương pháp điều tra chuyên môn ngày càng được mở rộng, phương pháp điều tra chọn mẫu được áp dụng phổ biến. Ngành Thống kê đã tổ chức thực hiện nhiều cuộc điều tra và tổng điều tra có nội dung và yêu cầu mới như: Điều tra thu thập thông tin để tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo hệ thống tài khoản quốc gia, điều tra vốn đầu tư phát triển, điều tra giàu nghèo (năm 1993). Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp lần 1 (năm 1994); Tổng điều tra kinh tế, hành chính sự nghiệp lần 1 (năm 1995), lần 2 (năm 2002), lần 3 (năm 2007); Điều tra lao động, việc làm khu vực thành thị (năm 1995); Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 01/4/1999 và thời điểm 01/4/2009; Tổng điều tra nông nghiệp nông thôn lần 2 (năm 2001), lần 3 (năm 2006); Điều tra doanh nghiệp hàng năm, Điều tra biến động dân số - kế hoạch hoá gia đình thời điểm 01/4 hàng năm...
Quán triệt Chỉ thị số 28/1998/CT-TTg ngày 19/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về "Tăng cường và hiện đại hoá công tác thống kê" tiếp theo các chế độ đã ban hành từ các năm 1993 đến năm 2002; Tổng cục Thống kê đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều chế độ báo cáo và điều tra thống kê áp dụng cho các Cục Thống kê các tỉnh, thành phố. Đặc biệt căn cứ vào chương trình hành động thực hiện định hướng phát triển Thống kê Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, năm 2003 Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê đã ban hành đồng bộ các chế độ báo cáo và điều tra thống kê mới áp dụng cho các Cục Thống kê tỉnh, thành phố và các đơn vị kinh tế cơ sở. Đặc điểm chung của các chế độ mới là: Hệ thống chỉ tiêu, phương pháp thu thập thông tin phù hợp hơn với điều kiện của nền kinh tế thị trường. Bổ sung nhiều chỉ tiêu phản ánh năng suất - chất lượng - hiệu quả nền kinh tế; phản ánh mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá; phản ánh rõ nét tình hình lao động, đời sống dân cư, tình hình xã hội, môi trường...
Chế độ báo cáo thống kê bao gồm:
- Quyết định số 657/2002/QĐ-TCTK ngày 02/10/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Nông, lâm nghiệp và thủy sản áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 730/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Giáo dục, đào tạo, văn hóa thông tin, y tế, thể dục thể thao, thiếu đói trong nông dân áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 732/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Vận tải, bốc xếp dịch vụ, đại lý vận tải và bưu chính viễn thông áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực Trung ương;
- Quyết định số 733/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Vốn đầu tư và xây dựng áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 734/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành và dịch vụ áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 735/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Công nghiệp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 75/2003/QĐ-TCTK ngày 15/01/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Tài khoản quốc gia áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Quyết định số 633/2003/QĐ-TCTK ngày 29/10/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Lao động và thu nhập áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Thời kỳ từ năm 2010 đến năm 2020
Ngày 24/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 54/2010/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, theo đó cơ quan Thống kê ở địa phương gồm có: Cục Thống kê ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chi cục Thống kê ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thống kê cấp huyện) trực thuộc Cục Thống kê cấp tỉnh.
Ngày 14/01/2011, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 48/QĐ-TCTK quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thống kê trên địa bàn tỉnh Yên Bái; tổ chức các hoạt động thống kê theo chương trình công tác của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao; cung cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo Đảng, Chính quyền tỉnh Yên Bái và cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, có trụ sở làm việc và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Về bộ máy tổ chức
Cơ quan Cục Thống kê tỉnh Yên Bái gồm có 7 phòng:
1. Phòng Thống kê Tổng hợp: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê tổng hợp, tài khoản quốc gia do đồng chí Bùi Thị Tâm - Trưởng phòng;
2. Phòng Thống kê Nông nghiệp: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản do đồng chí Lê Lâm Bằng - Trưởng phòng;
3. Phòng Thống kê Công nghiệp - Xây dựng: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê công nghiệp và xây dựng do đồng chí Triệu Thị Anh Đào - Trưởng phòng;
4. Phòng Thống kê Thương mại: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ, giao thông, bưu điện và giá cả do đồng chí Đỗ Thị Bích Diệp - Trưởng phòng;
5. Phòng Thống kê Dân số - Văn xã: Bao gồm các nghiệp vụ thống kê dân số, lao động, mức sống, xã hội và môi trường do đồng chí Hoàng Thị Ánh Tuyết - Trưởng phòng;
6. Phòng Tổ chức - Hành chính: Bao gồm các nghiệp vụ về tổ chức cán bộ, đào tạo, hành chính, quản trị và tài vụ cơ quan do đồng chí Nguyễn Cao Sơn - Trưởng phòng.
7. Phòng Thanh tra Thống kê: Bao gồm các nghiệp vụ phương pháp chế độ, công nghệ thông tin, thi đua và thanh tra đồng chí Lê Gia Ngọc - Trưởng phòng.
Cơ quan Thống kê cấp huyện: Mỗi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có 1 Chi cục Thống kê, là đơn vị trực thuộc, có tư cách pháp nhân, con dấu để giao dịch theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê; 9 Chi cục Thống kê cấp huyện bao gồm:
1. Chi cục Thống kê thành phố Yên Bái, đồng chí Nguyễn Việt Dũng - Chi cục trưởng;
2. Chi cục Thống kê thị xã Nghĩa Lộ, đồng chí Nguyễn Thiện Lưỡng - Chi cục trưởng;
3. Chi cục Thống kê huyện Văn Chấn, đồng chí Hoàng Thị Thu Hương - Chi cục trưởng;
4. Chi cục Thống kê huyện Trạm Tấu, đồng chí Vũ Văn Sơn - Chi cục trưởng;
5. Chi cục Thống kê huyện Mù Cang Chải, đồng chí Bùi Dũng Tiến - Chi cục trưởng;
6. Chi cục Thống kê huyện Trấn Yên, đồng chí Hồ Đăng Tú - Chi cục trưởng;
7. Chi cục Thống kê huyện Yên Bình, đồng chí Đinh Quốc Khánh - Chi cục trưởng;
8. Chi cục Thống kê huyện Văn Yên, đồng chí Hoàng Minh Thuyên - Chi cục trưởng;
9. Chi cục Thống kê huyện Lục Yên, đồng chí Bùi Thị Hoa - Chi cục trưởng.
Ngày 01/11/2012, Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Chương Phát giữ chức vụ Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Ngày 01/9/2015, đồng chí Nguyễn Chương Phát chuyển công tác nhận nhiệm vụ Bí thư Huyện ủy huyện Lục Yên. Cùng ngày 01/9/2015 Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Đinh Bá Toản giữ chức vụ Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, đồng chí Đỗ Thị Bích Diệp và đồng chí Lê Lâm Bằng giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Ngày 01/9/2020, Tổng cục Thống kê ký quyết định điều động, bổ nhiệm đồng chí Lê Lâm Bằng giữ chức vụ Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Lai Châu.
Về nhiệm vụ, quyền hạn
1. Thực hiện báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội tháng, quý, năm và nhiều năm; đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và phân tích thống kê chuyên đề theo chương trình, kế hoạch công tác của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao; cung cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo Đảng, Chính quyền tỉnh Yên Bái và cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
2. Tổ chức thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin từ báo cáo thống kê cơ sở và các cuộc điều tra, tổng điều tra thống kê theo phương án và hướng dẫn của Tổng cục Thống kê. Thực hiện các cuộc điều tra thống kê do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao và sử dụng ngân sách địa phương sau khi có thẩm định về chuyên môn của Tổng cục Thống kê;
3. Tổng hợp các báo cáo thống kê và báo cáo kết quả điều tra thống kê do các Sở, Ban, Ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn tỉnh cung cấp;
4. Biên soạn, xuất bản Niên giám thống kê và các sản phẩm thống kê khác;
5. Quản lý và thực hiện công bố, cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
6. Truy cập, khai thác, sao lưu, ghi chép các cơ sở dữ liệu thống kê ban đầu và hồ sơ đăng ký hành chính của các Sở, Ban, Ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để sử dụng cho mục đích thống kê theo quy định của pháp luật, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh;
7. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thống kê; thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt;
8. Thẩm định chuyên môn, nghiệp vụ thống kê theo phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thống kê đối với thống kê Sở, Ngành; thống kê doanh nghiệp và thống kê xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh;
9. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc chấp hành Luật Thống kê của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;
10. Thực hiện công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học tiên tiến vào hoạt động thống kê, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, dự báo, phổ biến, lưu trữ thông tin thống kê và hoạt động quản lý hành chính theo chương trình, kế hoạch của Tổng cục Thống kê;
11. Quản lý tổ chức, bộ máy, biên chế, cộng tác viên thống kê, thực hiện chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề thống kê và các chế độ, chính sách đãi ngộ khác; thi đua khen thưởng, kỷ luật; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức thống kê thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
12. Lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán kinh phí hàng năm theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê; quản lý tài chính, tài sản và các dự án đầu tư xây dựng xây dựng được giao theo quy định của pháp luật;
13. Thực hiện cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng và lãng phí; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật;
14. Thực hiện cung cấp dịch vụ công về thống kê theo quy định của pháp luật;
15. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao.
Ngày 18/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1803/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát: “Thống kê Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở hoàn thiện hệ thống tổ chức, bảo đảm đủ số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, áp dụng đồng bộ phương pháp thống kê tiên tiến và tăng cường sử dụng công nghệ hiện đại; hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia tập trung, thống nhất, thông suốt và hiệu quả với số lượng thông tin ngày càng đầy đủ và chất lượng thông tin ngày càng cao, phục vụ việc hoạch định chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp và nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác trong nước và quốc tế; phấn đấu đến năm 2020 Thống kê Việt Nam đạt trình độ khá và năm 2030 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.
Nhằm thực hiện tốt Chiến lược này, ngày 07/11/2012 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT quy định về Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gồm 114 biểu mẫu báo cáo và có giải thích cụ thể từng chỉ tiêu trong từng biểu mẫu báo cáo. Chế độ báo cáo cũng quy định đơn vị báo cáo là Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đơn vị nhận báo cáo là Tổng cục Thống kê. Nội dung và các biểu mẫu báo cáo bao gồm các lĩnh vực: Thống kê Tài khoản quốc gia (10 biểu); thống kê Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (32 biểu); thống kê Công nghiệp (15 biểu); thống kê Đầu tư và xây dựng (20 biểu); thống kê Thương mại và dịch vụ (27 biểu); thống kê Xã hội, môi trường (10 biểu). Thời hạn nhận báo cáo được quy định là ngày 17 hàng tháng (đối với báo cáo tháng), ngày 17 tháng cuối quý (đối với báo cáo quý), riêng báo cáo năm và báo cáo thời điểm sẽ ghi cụ thể tại từng biểu mẫu báo cáo. Phương thức gửi báo cáo được thực hiện dưới 2 hình thức bằng văn bản và bằng tệp dữ liệu báo cáo (gửi kèm thư điện tử).
Ngày 23/11/2015, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Thống kê, đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Ngành Thống kê hoạt động có hiệu quả, hiệu lực. Luật Thống kê năm 2015 đã quy định những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thống kê nhà nước, đó là: (i) Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời; (ii) Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê; (iii) Thống nhất về nghiệp vụ, không trùng lặp, không chồng chéo; (iv) Công khai, minh bạch; (v) Có tính so sánh.
Tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 01/2019/TT-BKHĐT do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành đã quy định Chế độ báo cáo thống kê ngành Thống kê bao gồm danh mục biểu mẫu báo cáo, biểu mẫu và giải thích biểu mẫu báo cáo của các lĩnh vực: Tài khoản quốc gia; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp; vốn đầu tư và xây dựng; thương mại và dịch vụ; xã hội và môi trường. Đơn vị báo cáo là Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ghi cụ thể tại góc trên bên phải của từng biểu mẫu báo cáo thống kê; đơn vị nhận báo cáo là đơn vị thuộc Tổng cục Thống kê được ghi cụ thể góc trên bên phải của từng biểu mẫu báo cáo thống kê, dưới dòng đơn vị báo cáo; thời hạn nhận báo cáo là ngày nhận báo cáo được ghi cụ thể tại góc trên bên trái của từng biểu mẫu báo cáo. Phương thức gửi báo cáo được sử dụng qua 2 hình thức bằng văn bản hoặc báo cáo điện tử trên hệ thống đến Tổng cục Thống kê theo thời gian quy định trên từng biểu mẫu. Biểu mẫu báo cáo bằng văn bản giấy phải có chữ ký, đóng dấu của Thủ trưởng đơn vị gửi báo cáo để thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu, xử lý số liệu. Trường hợp biểu mẫu báo cáo qua hệ thống báo cáo điện tử được thể hiện dưới hai hình thức là định dạng file pdf của văn bản giấy hoặc dưới dạng tệp tin điện tử được xác thực bằng chữ ký số của Thủ trưởng đơn vị báo cáo. Về ký hiệu biểu gồm hai phần, phần số và phần chữ. Phần số được đánh liên tục từ 001, 002, 003...; phần chữ được ghi chữ in viết tắt sao cho phù hợp với từng lĩnh vực và kỳ báo cáo (năm - N; Quý - Q; tháng - T;); lấy chữ BCC (Báo cáo Cục) thể hiện cho hệ biểu mẫu báo cáo thống kê.
3. Thời kỳ từ năm 2020 đến nay
Về bộ máy tổ chức
Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, ngày 18/3/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 10/2020/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Ngày 22/4/2020, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký Quyết định số 608/QĐ-BKH về việc phê duyệt Kế hoạch sắp xếp, sáp nhập các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê, các Phòng thuộc Cục Thống kê và Chi cục Thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày 20/5/2020, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký Quyết định số 1006/QĐ-TCTK quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được tổ chức thành hệ thống dọc 2 cấp theo đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất:
Cơ quan Cục Thống kê gồm 5 phòng:
1. Phòng Thống kê Tổng hợp, đồng chí Trần Ngọc Hưng - Trưởng phòng;
2. Phòng Thống kê Kinh tế, đồng chí Hà Quang Lâm - Trưởng phòng;
3. Phòng Thống kê Xã hội, đồng chí Đinh Hùng Tiến - Phó Trưởng phòng phụ trách phòng;
4. Phòng Thu thập Thông tin thống kê, đồng chí Nguyễn Quyết Thắng - Trưởng phòng;
5. Phòng Tổ chức - Hành chính, đồng chí Trần Hoài Bắc - Trưởng phòng.
Chi cục Thống kê tại các huyện, thị xã, thành phố, Chi cục Thống kê khu vực bao gồm:
1. Chi cục Thống kê thành phố Yên Bái, đồng chí Nguyễn Việt Dũng - Chi cục trưởng;
2. Chi cục Thống kê khu vực Văn Chấn - Nghĩa Lộ, đồng chí Lê Thị Hồng Loan - Chi cục trưởng;
3. Chi cục Thống kê khu vực Yên Bình - Lục Yên, đồng chí Đinh Quốc Khánh - Chi cục trưởng;
4. Chi cục Thống kê huyện Văn Yên, đồng chí Hoàng Minh Thuyên - Chi cục trưởng;
5. Chi cục Thống kê huyện Trạm Tấu, đồng chí Dương Văn Nguyên - Chi cục trưởng;
6. Chi cục Thống kê huyện Trấn Yên, đồng chí Triệu Thị Anh Đào - Chi cục trưởng;
7. Chi cục Thống kê huyện Mù Cang Chải, đồng chí Bùi Dũng Tiến - Chi cục trưởng;
Theo lộ trình thực hiện đề án đến thời điểm 01/11/2021, sẽ tiến hành ghép Chi cục Thống kê huyện Trấn Yên và Chi cục Thống kê huyện Văn Yên thành Chi cục Thống kê khu vực Trấn Yên - Văn Yên.
Ngày 01/02/2021, Tổng cục Thống kê ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Đào Thị Thanh Vân giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Yên Bái.
Về chức năng, nhiệm vụ
1. Thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động thống kê; tổ chức, chỉ đạo hướng và triển khai thưc hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê;
2. Tổ chức thu thập, tiếp nhận, xử lý tổng hợp thông tin từ điều tra thống kê, tổng điều tra thống kê, báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật;
3. Tiếp nhận, quản lý, sử dụng dữ liệu, thông tin từ cơ sở dữ liệu hành chính do các cơ quan quản lý dữ liệu cung cấp cho hoạt động thống kê trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Bảo mật thông tin của tổ chức, cá nhân trong quá trình cung cấp, chia sẻ dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê theo quy định của pháp luật;
4. Thực hiện các cuộc điều tra thống kê do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh giao sau khi Tổng cục Thống kê thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ. Tổng hợp thông tin thống kê, kết quả điều tra thống kê do các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn tỉnh cung cấp. Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh;
5. Phân tích và dự báo thống kê phục vụ việc xây dựng, đánh giá thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triến kính tế - xã hội; báo cáo kết quả điều tra, tổng điều tra thống kê; báo cáo phân tích chuyên đề; báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; biên soạn các chỉ tiêu thống kê được phân công;
6. Biên soạn, xuất bản Niên giám thống kê và các sản phẩm thống kê khác;
7. Ban hành và tổ chức thực hiện phổ biến thông tin thống kê nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổ chức họp báo công bố thông tin thống kê kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh;
8. Quản lý và thực hiện công bố, phổ biến, cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
9. Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế phối hợp cung cấp, chia sẻ thông tin thống kê, sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê theo quy định của pháp luật;
10. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thống kê;
11. Hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thống kê đối với điều tra viên, người làm công tác thống kê Sở, ngành, doanh nghiệp, xã, phường, thị trấn và người làm công tác thống kê thuộc phạm vi quản lý của Cục Thống kê theo quy định cùa pháp luật;
12. Tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành thống kê, kiểm tra, giám sát hoạt động thống kê; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thống kê; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xừ lý vi phạm pháp luật về thống kê;
13. Thực hiện tự đánh giá chất lượng thông kê theo Bộ tiêu chí chât lượng thống kê nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
14. Ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến và công nghệ thông tin - truyền thông vào hoạt động thống kê. Triển khai các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công tác quản lý hoạt động thống kê, công tác quản lý công chức và người lao động của Cục Thống kê;
15. Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và lao động hợp đồng; thực hiện chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp ưu đãi nghề thống kê và các chế độ chính sách độ đãi ngộ khác; thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật và đánh giá, phân loại công chức, lao động họp đồng thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
16. Lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán kinh phí hàng năm theo hướng dẫn của Tống cục Thống kê; quản lý tài chính, tài sản và các dự án đầu tư xây dựng được giao theo quy định của pháp luật;
17. Thực hiện cải cách hành chính; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý của Cục Thống kê theo quy định của pháp luật;
18. Quản lý, cập nhật, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, hồ sơ công chức, người lao động và các văn bản pháp quy của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
19. Thực hiện cung cấp dịch vụ công về thống kê theo quy định của pháp luật. Tổ chức tham khảo ý kiến người sử dụng thông tin thống kê để nâng cao chất lượng thông tin thống kê;
20. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao và theo quy định của pháp luật.
III. CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Cuối năm 1991, khi tái lập tỉnh, cơ sở vật chất của Cục Thống kê tỉnh Yên Bái rất thiếu thốn. Mọi tài sản có giá trị và còn tốt đều giành cho Cục Thống kê tỉnh Lào Cai.
Từ năm 1991 - 1997, trụ sở làm việc vẫn ở chung với Ủy ban kế hoạch tỉnh (nhà cấp 4). Sang năm 1997 tỉnh cấp đất, Tổng cục Thống kê cấp kinh phí cho Cục Thống kê xây dựng trụ sở mới tại km 4 - Phường Đồng Tâm. Tháng 6/1998, cơ quan Cục Thống kê tỉnh Yên Bái chính thức chuyển về địa điểm mới trong khối nhà 03 tầng. Lần đầu tiên, kể từ ngày thành lập Ngành, công chức và người lao động Cục Thống kê tỉnh Yên Bái mới được làm việc tại trụ sở được xây dựng kiên cố, đàng hoàng. Đến năm 2012 trụ sở làm việc của Cục Thống kê được cải tạo, sửa chữa, nâng cấp lên 04 tầng khang trang, bề thế, xây mới nhà công vụ 03 tầng đảm bảo diện tích làm việc cho lãnh đạo, công chức và người lao động trong Ngành.
Đối với các Phòng Thống kê huyện, thị, phần lớn đều được Uỷ ban nhân dân huyện, thị bố trí phòng làm việc trong phạm vi văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện, thị. Năm 2000 Tổng cục Thống kê đầu tư kinh phí xây mới trụ sở làm việc riêng là Phòng (nay là Chi cục) Thống kê huyện Trấn Yên, năm 2001 xây mới Phòng (nay là Chi cục) Thống kê huyện Mù Cang Chải, năm 2006, Phòng (nay là Chi cục) Thống kê huyện Trạm Tấu cũng được đầu tư kinh phí để xây dựng trụ sở làm việc riêng. Đến nay toàn bộ 9 Chi cục Thống kê huyện, thị xã, thành phố đều được xây dựng trụ sở kiên cố, khang trang, hiện đại (diện tích xây dựng 01 Chi cục trung bình trên 200 m2) và hầu hết đã được cấp đất xây dựng riêng, chỉ còn Chi cục Thống kê thành phố Yên Bái, Chi cục Thống kê huyện Văn Yên trong khuân viên của Ủy ban nhân dân.
Về phương tiện làm việc: Cùng với trụ sở được đầu tư xây dựng, các trang, thiết bị làm việc như: bàn ghế, tủ đựng tài liệu đã được trang bị mới, phương tiện tính toán đặc biệt được quan tâm đầu tư. Cục Thống kê được trang bị máy chủ và hệ thống máy vi tính được nối mạng internet tương đối hiện đại đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thu thập, tổng hợp, biên soạn thông tin thống kê nhanh chóng, chính xác. Toàn bộ công chức trong ngành đều được trang bị máy vi tính cấu hình cao, cài đặt các phần mềm chuyên dụng. Ngoài ra năm 2020, Tổng cục Thống kê còn trang bị hệ thống thiết bị xây dựng phòng họp trực tuyến để tổ chức hội nghị, hội thảo, các buổi tập huấn nghiệp vụ từ Tổng cục Thống kê đến Cục Thống kê, Chi cục Thống kê một cách thông suốt, nhanh chóng, tiết kiệm rất nhiều thời gian và kinh phí. Từ khi có phương tiện làm việc đầy đủ, việc xử lý thông tin nhanh hơn rất nhiều, an toàn hơn, chất lượng công tác thống kê được nâng lên, công tác thống kê đáp ứng được yêu cầu đối với Tổng cục Thống kê, cũng như đối với lãnh đạo cấp ủy và chính quyền địa phương.
Về phương tiện đi lại: Tháng 3/1992, Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp cho Cục Thống kê chiếc xe Uoát cũ của Văn phòng Uỷ ban, phục vụ cho nhu cầu công tác. Đến tháng 12/1996, từ 2 nguồn kinh phí của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái mua thêm một xe con mới (Mátda 626), việc đi lại công tác của lãnh đạo và cán bộ được cải thiện, đỡ vất vả hơn. Sang năm 2004, do tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, nguồn kinh phí của ngành được kế hoạch hoá và khá hơn, Tổng cục trang bị tiếp cho Cục Thống kê 1 xe ô tô mới (Mitsubishi) (sau khi đã thanh lý xe Uoát từ năm 2003). Đến năm 2011 thanh lý xe ô tô Mazda 626, năm 2012 được Tổng cục cấp xe ô tô Toyota Fortuner 07 chỗ. Như vậy phương tiện đi lại đã đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho lãnh đạo và cán bộ đi công tác.
IV. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH THỐNG KÊ YÊN BÁI
Ngay sau khi chia tách tỉnh, Lãnh đạo Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo Phòng Tổng hợp phối hợp với các phòng nghiệp vụ tiến hành chia tách số liệu từ tỉnh Hoàng Liên Sơn thành riêng tỉnh Yên Bái trên cơ sở các địa danh hành chính mới, các cơ sở kinh tế trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Từ đó đã hoàn chỉnh cuốn Niên giám thống kê năm 1991 tỉnh Yên Bái (xuất bản năm 1992) bao gồm nội dung các chỉ tiêu: Điều kiện tự nhiên, dân số, lao động; các chỉ tiêu tổng hợp, công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, vận tải bưu điện, thương nghiệp, giáo dục, y tế, văn hoá.
Đáng chú ý là trong Niên giám thống kê năm 1991 ở một số chỉ tiêu quan trọng đã thể hiện số liệu của các năm 1985, 1986, 1987, 1988, 1989, 1990 như dân số trung bình, dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ sinh, chết, tăng tự nhiên phân theo nam, nữ, thành thị, nông thôn, huyện, thị... hoặc một số chỉ tiêu của các ngành nông, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng...
Niên giám thống kê năm 1991-1992, tuy được biên soạn công phu, song do điều kiện khó khăn, nên không phát hành rộng rãi, mà chỉ phục vụ đối với thường trực Tỉnh uỷ, thường trực Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Từ năm 1993, Tổng cục Thống kê có hướng dẫn thống nhất hệ thống chỉ tiêu trong Niên giám Thống kê. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã biên soạn và phát hành rộng rãi cuốn Niên giám thống kê năm 1993 (xuất bản năm 1994), phục vụ nhu cầu dùng tin của mọi đối tượng nghiên cứu.
Nội dung Niên giám năm 1994 đã có những thay đổi ở một số chỉ tiêu tổng hợp như tổng giá trị sản xuất (GO), tổng giá trị tăng thêm (GDP) thay cho tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Từ đó đến nay, Niên giám Thống kê tỉnh Yên Bái được xuất bản hàng năm, nội dung các chỉ tiêu ngày càng được hoàn thiện. Ngoài những chỉ tiêu cơ bản hàng năm, Niên giám còn đề cập đến kết quả các cuộc điều tra toàn diện hoặc mẫu do Ngành thống kê thực hiện trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Đặc biệt trong Niên giám những năm gần đây đã cập nhật một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh Yên Bái và các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm cung cấp thêm thông tin cho người sử dụng, để có những nhận định đánh giá khách quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Yên Bái với tỉnh bạn trong khu vực.
Năm 2020, Cục Thống kê đã biên soạn Niên giám sớm hơn kế hoạch được giao, với nội dung và chất lượng được nâng cao hơn những năm trước, số liệu đã được thống nhất từ tỉnh đến cấp huyện, mỗi trang số liệu đều được ứng dụng Infographic để minh họa sinh động và phong phú hơn.
Hàng năm, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã biên soạn, xuất bản cuốn “Số liệu thống kê chủ yếu 6 tháng và cả năm” và bộ số liệu đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm, 20 năm phục vụ thiết thực cho việc hoạch định chính sách của địa phương, phục vụ cho Đại hội Đảng các cấp đưa vào Nghị quyết Đại hội kế hoạch 5 năm, chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Số liệu ước tính các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu hàng năm do Cục Thống kê biên soạn đã giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác chỉ đạo, điều hành, làm căn cứ để xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm tiếp theo.
Hàng tháng, ngành Thống kê làm báo cáo nhanh theo kế hoạch thông tin của Tổng cục thống kê, đồng thời phục vụ cho các cấp lãnh đạo của địa phương chỉ đạo tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương mình. Công việc này đã trở thành nề nếp và ngày càng nâng cao chất lượng. Nội dung các báo cáo tiếp tục có nhiều cải tiến đưa ra được điểm nổi bật của từng ngành, lĩnh vực qua từng tháng, từng quý; tập trung phân tích tình hình, phản ánh sát thực tế diễn biến kinh tế - xã hội của tỉnh; đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong từng khu vực kinh tế, đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất giải pháp có tính tổng quát, được các cấp, các ngành đánh giá cao và tham khảo, sử dụng trong quá trình tham mưu xây dựng các giải pháp chỉ đạo điều hành của lãnh đạo tỉnh; bên cạnh đó tập trung kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra. Đặc biệt những tháng cuối quý I, tháng 5 dự ước 6 tháng đầu năm, tháng 9 dự báo khả năng của cả năm, Cục Thống kê đã xây dựng kịch bản tăng trưởng từng quý, cả năm và giai đoạn giúp cho các cấp, các ngành có sự chỉ đạo cụ thể hơn trong từng lĩnh vực sản xuất, để có thể tăng cường bổ sung những giải pháp phù hợp nhằm phấn đấu đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch đề ra. Đặc biệt các kỳ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII (Nhiệm kỳ 1991-1995), lần thứ XIV (Nhiệm kỳ 1996-2000), lần thứ XV (Nhiệm kỳ 2001-2005), lần thứ XVI (Nhiệm kỳ 2006-2010), lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2010-2015), lần thứ XVIII (Nhiệm kỳ 2015-2020), lần thứ XIX (Nhiệm kỳ 2020-2025) Ngành Thống kê Yên Bái được tham gia trong ban soạn thảo, tiểu ban nội dung của Đại hội và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đánh giá thực trạng nền kinh tế tỉnh nhà trong từng giai đoạn và đưa ra những kiến nghị cho những giai đoạn tiếp theo.
Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của ngành, hàng năm Cục Thống kê đã tổ chức các cuộc điều tra thường xuyên thuộc lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp, xây dựng, vốn đầu tư; thương mại, dịch vụ, vận tải, giá cả; dân số, lao động, y tế, mức sống hộ gia đình, thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số… Kết quả các cuộc điều tra phục vụ kịp thời cho công tác tổng hợp các báo cáo nhanh hàng tháng và báo cáo nhanh quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm, góp phần chung vào việc đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó, với tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nên Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã nắm bắt thông tin, theo dõi diễn biến của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khá đầy đủ; việc điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng quý; năng lực mới tăng của nền kinh tế; tình hình thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, diễn biến tình hình kinh tế của thế giới và trong nước rất sát sao nên công tác phân tích, dự báo kinh tế từng bước được nâng cao, tạo chuyển biến tích cực hơn; công tác phân tích, dự báo ngày càng có độ chính xác và tiếp cận thực tế tốt hơn...
Cùng với cả nước, với trọng trách là cơ quan thường trực các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở (các năm 1999, 2009, 2019), Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp (các năm 2001, 2006, 2011, 2016 và giữa kỳ năm 2020), Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp (các năm 1995, 2002, 2007, 2012 và tổng điều tra kinh tế năm 2017) trên địa bàn tỉnh, Cục Thống kê đã bám sát phương án, kế hoạch các bước tiến hành Tổng điều tra của Ban Chỉ đạo Trung ương từ bước chuẩn bị, điều tra thu thập số liệu tại địa bàn đến tổng hợp, công bố kết quả cuộc Tổng điều tra đảm bảo thời gian và chất lượng. Kết quả thực hiện các cuộc Tổng điều tra của Ban Chỉ đạo tỉnh Yên Bái đều thành công tốt đẹp, đảm bảo chất lượng, an toàn, tiết kiệm, đúng tiến độ quy định, được Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương đánh giá đạt kết quả tốt.
Hiện nay, hầu hết các cuộc điều tra thống kê đều được thu thập thông tin qua thiết bị thông minh (Capi) như điện thoại thông mimh, máy tính bảng hoặc thu thập thông tin theo hình thức trực tuyến (đối tượng cung cấp thông tin trực tiếp điền thông tin phiếu điều tra trên trang Web), dữ liệu thu thập được truyền trực tiếp về Trung tâm tin học của Tổng cục Thống kê xử lý. Trong công tác tổ chức cán bộ đã thực hiện việc quản lý nhân sự trên phần mềm trực tuyến (Webform) từ năm 2018. Trong công tác tài chính - kế toán đã sử dụng phần mềm kế toán MISA từ năm 2007, phần mềm quản lý tài sản từ năm 2014, phần mềm dự toán lương từ năm 2016, phần mềm hỗ trợ kê khai Bảo hiểm xã hội từ năm 2018. Trong quản lý, điều hành công việc, từ năm 2017 Cục Thống kê đã sử dụng Hệ điều hành của tỉnh để gửi và nhận tài liệu thay cho gửi, nhận văn bản giấy; từ năm 2019 sử dụng Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc, chữ ký số (Eoffice) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; từ năm 2020 sử dụng Phần mềm quản lý công việc (Taskgov) của Tổng cục Thống kê; từ năm 2020, đã đưa hệ thống họp trực tuyến vào sử dụng tại Cục Thống kê và 4 Chi cục Thống kê.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần nâng cao năng lực điều hành công việc; công tác điều tra, thu thập số liệu, xử lý thông tin, thực hiện báo cáo đặc biệt đối với các báo cáo phân tích chuyên đề được nhanh chóng, kịp thời; quản lý hiệu quả công tác cán bộ và thanh quyết toán; giúp tiếp cận nhanh khoa học công nghệ mới, tạo điều kiện để công chức và người lao động cải tiến trong công việc nâng cao năng suất lao động, từ đó tiết kệm thời gian, kinh phí.
Hàng năm Cục Thống kê tỉnh Yên Bái luôn giữ vững danh hiệu Tập thể lao động suất sắc; Bằng khen Bộ trưởng các năm 2011, 2013, 2015, 2017, 2019; Bằng khen Thủ tướng Chính phủ năm 2012; Cờ thi đua của Ủy ban nhân dân tỉnh các năm 2015, 2017, 2020; Cờ thi đua cấp Bộ năm 2019. Với những kết quả đã đạt được, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng Ba năm 2006, năm 2020, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.